DIỄN VĂN NHẬM CHỨC CỦA ĐỒNG CHÍ
TÂN CHỦ TỊCH ĐẠI VIỆT CÁCH MẠNG ĐẢNG

NHIỆM KỲ 2003-2007

 

ĐỌC TRONG ĐẠI HỘI KỲ V, NGÀY 19 & 20 - 7 - 2003   TẠI HOUSTON, TEXAS, HOA KỲ.


 

Kính thưa quư đồng chí đại biểu,

     Thông qua thủ tục dân chủ truyền thống cao đẹp của h́nh thức đầu phiếu, quư đồng chí đại biểu đă bày tỏ sự ủng hộ đối với cá nhân tôi trong chức vụ Chủ Tịch Đại Việt Cách Mạng Đảng, nhiệm kỳ 2003-2007 và Chương tŕnh ba sách lược căn bản mà tôi đă đề nghị khái quát trong Diễn văn Khai mạc được coi như Bản Báo cáo Chính trị tŕnh bày trước Đại Hội vốn đă được nhiều đồng chí đại biểu tích cực góp ư thảo luận. Tôi long trọng chấp nhận sự đề cử nhiệt thành này và xin hết ḷng cám ơn tất cả quư đồng chí. Sự tín nhiệm của quư đồng chí trong biến cố lịch sử trọng đại diễn ra hôm nay không những nói lên mối quan tâm sâu sắc của quư đồng chí đối với tiền đồ của đảng mà c̣n là yếu tố nhắc nhở quư đồng chí có trách nhiệm sát cánh cùng tôi và đồng chí Bùi Hoài Nam, Tân Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn và Giám Sát Trung Ương, và quư đồng chí thuộc Ban Chấp Hành Trung Ương qua các nhiệm vụ sẽ được thi hành và với nhiều công tác sẽ được giao phó trong giai đoạn bốn năm sắp tới. Sự đề cử đó cũng c̣n có ư nghĩa thúc đẩy quư đồng chí dấn thân trong trách nhiệm sử dụng tổ chức đảng bộ như một phương tiện để cứu nước, phương tiện càng dồi dào sinh lực, sắc bén trong nhận thức, năng động trong công tác th́ việc cứu nước càng mau chóng có kết quả với những thành tựu đáng kể.

 Thưa quư đồng chí đại biểu,

     Người xưa có nói: “Tận nhân lực tri thiên mệnh” nghĩa là hăy làm hết sức ḿnh đă rồi mới biết mệnh trời. Đối với cái tuổi của tôi, tôi cám ơn trời từng ngày một, nếu không nói là từng giờ, v́ đă cho tôi một chuỗi thời gian dài, thật dài để phục vụ đất nước, qua tổ chức cách mạng dân tộc, tuy có thay đổi với đôi chút danh xưng để cho phù hợp với t́nh h́nh đất nước, nhưng chính nghĩa đấu tranh của tổ chức vẫn không thay đổi, luôn luôn sáng tỏ với hai vầng nhật nguyệt và nhất là với dân tộc Việt Nam. Thật sự th́ câu nói trên vẫn c̣n là cái ǵ đó buông lửng, vướng mắc, không kết thúc với lời hứa hẹn điều ǵ, không cho ta biết mệnh trời ra làm sao, dài hay ngắn, sáng sủa hay tối tăm. Dù sao th́ triết lư Đông phương vẫn có những cái uyên bác, sâu sắc của nó mà đối với những con người lấy sự tranh đấu cho lẽ sống c̣n của dân tộc làm cứu cánh, chúng ta tin tưởng vào vận nước bởi lẽ “đất có tuần, dân có vận”, và v́ như cụ Phan Bội Châu từng nói “dân là dân nước, nước là nước dân”. Vận nước chắc chắn phải đi vào một kỷ nguyên sáng lạn, huy hoàng trong tương lai cho tất cả người Việt quốc gia của chúng ta sau một thời kỳ quá u ám tối tăm dưới chế độ của bạo quyền Cộng Sản. Điều đó không những là niềm tin mà c̣n là lẽ tuần hoàn, biến dịch tất yếu của vũ trụ.

    

 Thưa quư đồng chí,

 

Cách đây 8 năm, trên một tấm biểu ngữ treo ở hội trường dùng để tổ chức Đại Hội kỳ III Đại Việt Cách Mạng Đảng ngày 24 & 25 tháng 11-1995 cũng tại Houston, Texas, tôi có đọc thấy một câu như thế nầy: “Nhân Bản, Dân Chủ, Thịnh Vượng: Đường Sinh Tồn Của Dân Tộc”. Câu biểu ngữ đó chứa đựng tất cả phạm trù triết lư và mục tiêu hành động của chúng ta. Ba tiêu điểm đấu tranh nhân bản, dân chủ, thịnh vượng cũng đă hiện diện ở chỗ trang trọng nhất trên tất cả các văn kiện, văn thư, tài liệu học tập, quyết nghị, tuyên cáo, đảng văn, thư tín của đảng v.v. để thường xuyên nhắc nhở các bổn phận của chúng ta trong nhiệm vụ đấu tranh. Đối chiếu với một số văn bản, văn bài được lưu hành khắp nơi mà chúng ta có dịp đọc tới, trong Đại Hội của chúng ta hôm nay, tôi muốn cùng quư đồng chí thử nh́n lại ư nghĩa ba danh từ nhân bản, dân chủ, thịnh vượng mà chúng ta đă sử dụng làm tiêu điểm cho công cuộc đấu tranh lâu nay.

     Trước hết về nhân bản. - Xuất phát từ ư niệm nhân linh ư vạn vật nghĩa là loài người linh hơn mọi loài của nền triết học phương Đông, với hệ thống tư tưởng tam tài thiên, địa, nhân của học thuyết Khổng Mạnh và quan điểm triết học của Tuân Tử cho rằng ba thế lực của vũ trụ là Trời, Đất và người, mỗi thế lực có thiên chức riêng, sách lược đấu tranh của chúng ta không đi ra ngoài việc tranh đấu để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người. Chủ nghĩa Dân tộc Sinh tồn do đảng trưởng Trương Tử Anh sáng tạo, lấy mục tiêu đấu tranh là mưu sự sống c̣n cho dân tộc Đại Việt làm đích nhắm, chọn đơn vị phục vụ là đại khối dân tộc tức cũng không đi ra ngoài đối tượng phục vụ cơ bản là con người. Một số các lư thuyết gia trong đảng kế tục ư niệm sáng tạo tiên khởi của đảng trưởng, thí dụ cố đồng chí Nguyễn Ngọc Huy, cố đồng chí Trần Việt Sơn đă khai triển dạng bản sơ khởi của triết thuyết Sinh Tồn với những công tŕnh tư tưởng đóng góp vẫn c̣n có giá trị cho tới ngày hôm nay như quyển Dân Tộc Sinh Tồn, chủ nghĩa quốc gia khoa học của Hùng Nguyên xuất bản năm 1964 trên 800 trang, cuốn Đạo Sống Dân Tộc Sinh Tồn của Trần Việt Sơn có in trong Tài liệu Căn Bản do Tổng Bộ Tổ Chức thuộc Đại Việt Cách Mạng Đảng ấn hành năm 1970. Trước kia cũng đă có một bản văn nói về chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn do Tống-Đạo Trương Tử An viết nhưng tiếc thay ít được phổ biến. Năm 1985, chúng ta tiếp nhận thêm tài liệu Tuyên Ngôn Đại Việt Quốc Dân Đảng 1939 trong đó có phần nhất nói về bản tuyên ngôn năm 1939 và phần hai nói về chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, nội dung ấn phẩm có đề cập đến sự sinh tồn từ cá nhân đến dân tộc. Trong những năm gần đây, chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn được rút gọn, cô đọng lại với một hai ấn phẩm nhỏ lưu hành trong nội bộ các hệ phái Đại Việt và cũng có thể được phổ biến ra bên ngoài như tập Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn Yếu Lược (tác giả Hùng Nguyên) (62 trang, Tủ sách Người Dân ở California ấn hành có đề giá bán 2 đô la, in năm 1989), hoặc Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn do Ủy ban Nghiên cứu Chủ Nghĩa ấn hành năm 1997 cũng tại Cali.

     Chắc chắn tư tưởng nhân bản ngày nay vẫn c̣n nhiều sức hấp dẫn đối với công việc lập thuyết bằng chứng là từ đầu năm 2000, một văn kiện có tên là Hiến Chương Nhân Bản 2000: Lời Kêu Gọi Một Chủ Nghĩa Nhân Bản Toàn Cầu Mới, do Paul Kurtz, chủ tịch Hội Đồng Chủ Nghĩa Nhân Bản Thế Tục (Council for Secular Humanism) soạn thảo và được sự tán đồng của hàng trăm trí thức, khoa học gia, và văn nghệ sĩ trứ danh trên khắp thế giới trong đó có nhiều người từng lănh giải thưởng Nobel, được phổ biến qua nhiều ngôn ngữ trên hoàn vũ, và đă được dịch giả Nguyễn Ước, hiện sống tại Toronto, Canada chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Trong Lời Mở Đầu, Hiến Chương Nhân Bản 2000 viết: “Chủ nghĩa nhân bản là một quan điểm đạo đức, khoa học cùng triết lư và đang làm thay đổi thế giới. Di sản của nó có nguồn gốc từ các triết gia thời cổ Hi lạp và La mă, Khổng giáo Trung Hoa và phong trào Carvaka thời cổ Ấn độ. Ṛng ră hơn nửa thiên niên kỷ, các nghệ sĩ, nhà văn, nhà khoa học và nhà tư tưởng nhân bản h́nh thành kỷ nguyên hiện đại. Quả thật, chủ nghĩa nhân bản và chủ nghĩa hiện đại thường được xem có cùng một ư nghĩa; v́ những tư tưởng và giá trị nhân bản biểu lộ niềm tin tưởng có tính tái tạo vào sức mạnh của con người nhằm giải quyết những vấn đề của loài người và khuất phục những ranh giới chưa được thăm ḍ.

Chủ nghĩa nhân bản hiện đại đơm hoa kết trái trong thời đại Phục Hưng. Nó dẫn tới sự phát triển của khoa học hiện đại. Trong thời đại Khai sáng, nó làm nảy sinh những lư tưởng mới về công bằng xă hội và gây hứng khởi cho cuộc cách mạng dân chủ của thời đại chúng ta. Chủ Nghĩa Nhân Bản giúp định h́nh một quan điểm đạo đức mới, nhấn mạnh vào giá trị của tự do và hạnh phúc cùng những hiệu quả tốt của các quyền phổ quát của con người.”

Nhắm vào tư tưởng nhân bản tức là lấy con người làm đối tượng gốc để xây dựng, kiện toàn và phát huy những giá trị đặc thù của nó, sách lược đấu tranh của chúng ta về tư tưởng này cũng sẽ phải được khai triển thêm để làm chất liệu dồi dào cho các luận điểm có thêm phần sắc bén và sức thuyết phục.

     Thứ đến về dân chủ. - Ư niệm dân chủ trong trào lưu tư tưởng của nhân loại thật sự không phải là điều ǵ mới mẻ nhưng đă được các nhà tư tưởng, các nhà làm chính trị hay các triết gia Đông Tây đề cập đến xưa nay. Ở Đông phương, Mạnh tử đă từng nói một câu nổi tiếng: “Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh” nghĩa là dân đáng trọng, thứ đến là đất nước, vua th́ nên coi nhẹ. Truyền thống dân chủ cũng đă xuất hiện trong xă hội Việt Nam rất sớm với các câu nói như: “Phép vua thua lệ làng”, “Quan có cần nhưng dân chưa vội, quan có vội quan lội quan đi”, “Quan cần dân trễ”, hoặc “quan nhất thời, dân vạn đại” v.v. Ư niệm về sức mạnh của người dân được biểu lộ trong câu “dân như nước có thể chở thuyền nhưng cũng có thể lật thuyền” vốn cũng là niềm khích lệ để cho mọi người đấu tranh v́ lư tưởng dân chủ có thể duy tŕ được sự tin tưởng vào mục tiêu đấu tranh của ḿnh. Căn bản của một quốc gia là ở người dân cho nên có danh từ dân bản. Dân là gốc của nước nên dân cũng là người chủ của nước. Những ư niệm đó đan kết vào nhau, hỗ trợ cho nhau trong thế liên hoàn không thể nào tách rời nhau ra được. Sức lực, tài nguyên của dân chúng cũng phải được sử dụng, điều động vừa phải v́ đó là lẽ khôn ngoan trong thuật lănh đạo, đúng như Đức Trần Hưng Đạo khuyên vua Trần Anh Tông khi ngài sắp mất: “Hăy khoan thư cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Các triều đại phong kiến trước đây cũng đă biết lấy dân làm gốc của nước, cho nên đă luôn lưu ư đến việc săn sóc dân và loại trừ hạng tham quan ô lại chuyên ḅn rút xương tủy của cải của người dân. Chính vua Minh Mạng cũng đă có nói: “Quan lại tham nhũng là sâu mọt của dân; trộm cướp nổi lên cũng v́ vậy đó. Cho nên dẹp kẻ ác để yên dân là việc trước nhất của chính trị.”

     Thêm vào đó, người xưa cũng nói rằng: “Ư dân là ư trời” và nếu vua là con của trời th́ phải thích cái dân thích, ghét điều dân ghét (dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi. - Mạnh Tử). Sự tôn trọng và làm theo ư dân cũng đă xuất hiện dưới chế độ quân chủ chứng tỏ qua hội nghị Diên Hồng thời Trần. Người dân cũng có cơ hội được tham gia ư kiến, bày tỏ nguyện vọng hoặc giải bày những oan ức, chèn ép của ḿnh. Tiến tŕnh dân chủ từ các chế độ phong kiến chuyển sang thời hiện đại dĩ nhiên phải được xây dựng bằng các văn kiện luật pháp và nhất là phải được chính quyền tôn trọng và thực thi. Kinh nghiệm lịch sử hiện nay cho thấy chính quyền Cộng Sản mặc dù gọi là chính quyền của nền dân chủ nhân dân nhưng hoàn toàn không tôn trọng luật pháp, hiến pháp mặc dù họ đă có ban hành.

     Tiêu điểm đấu tranh của chúng ta nhắm vào việc xây dựng một xă hội dân chủ, một chế độ pháp trị trong đó người dân được quyền quyết định cuộc sống và tương lai của ḿnh theo luật pháp và tinh thần tự do. Tư tưởng dân chủ cũng đă được rất nhiều tổ chức, đảng phái đấu tranh cho quê hương Việt Nam, chấp nhận để làm cơ sở tư tưởng cho chương tŕnh hành động của họ. Khai thác kho tri thức về tư tưởng này trong sách vở, tư liệu để học hỏi và rút tỉa kinh nghiệm cũng là một trong những nỗ lực mà mọi đồng chí, đảng viên cũng như cán bộ của chúng ta cần xúc tiến.

     Sau nữa về thịnh vượng. - Theo từ nguyên của Hán tự, chữ Thịnh viết theo lối hội ư gồm chữ thành tức là nên, xong (viết ở trên) và chữ Mănh là cái bát đựng đồ ăn (viết ở dưới) nghĩa chung là đầy đủ; chữ Vượng cũng viết theo lối hội ư gồm chữ Nhật là mặt trời (viết bên trái) và chữ Vương là vua (viết bên phải) nghĩa chung là sáng sủa, tốt đẹp. Cả hai chữ Thịnh Vượng nói lên ư nghĩa chung là đầy đủ, tốt đẹp. Đó là mục tiêu căn bản của cuộc sống con người cũng là cuộc sống của dân tộc.

     Trong các ngôn từ chính trị thời quân chủ, chúng ta thường nghe các chữ thực túc cường binh, quốc phú binh cường, hoặc dân giàu nước mạnh v.v. Đó là ư niệm cơ bản có hệ quả liên đới mật thiết với nhau, cái này là kết quả của cái kia.

Dưới các triều đại quân chủ ở nước ta, chính sách quốc gia thường thường dựa trên binh lực, binh quyền v́ quốc gia lúc nào cũng phải chú tâm đến việc chống ngoại xâm, dẹp nội loạn nên quân đội là cơ cấu cần được tổ chức và bồi dưỡng đầy đủ mới có thể hoàn tất các nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm trong việc tạo cho quốc gia an ninh, ổn cố. Khi quốc gia hết chiến tranh, chính sách ngụ binh ư nông cũng c̣n được áp dụng để duy tŕ một sức mạnh cần thiết để có thể dùng ngay khi hữu sự. Dĩ nhiên sự giàu mạnh của quốc gia phải dựa vào nông nghiệp là nghề nuôi sống căn bản của dân tộc Việt Nam. Chính sách phú quốc cường binh tất yếu dựa vào nghề nông cho nên mới có câu “dĩ nông vi bản”. Trong lịch sử Việt Nam, vấn đề ruộng đất vẫn luôn luôn là một vấn đề căn bản cần phải giải quyết hợp lư, hợp luật.

Trong các phong trào Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ 20, các nhà hoạt động cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Cường Để chẳng hạn đều luôn luôn suy nghĩ về mục đích làm sao cho dân giàu nước mạnh để đủ sức vươn lên dưới trời Đông Á. Sự thành công của Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật Bản giữa thế kỷ XIX đă là một khích lệ lớn cho sĩ phu Việt Nam trong công cuộc đấu tranh lật đổ nền thống trị bóc lột của chế độ thực dân.

Với chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, các nhà lập thuyết của đảng vẫn luôn luôn khai thác ư niệm sức mạnh là căn bản để giải quyết và đạt được thắng lợi trong một cuộc tranh đấu đề sinh tồn. Trong bản lược giải đại ư Dân Tộc Sinh Tồn Chủ Nghĩa, đảng trưởng Trương Tử Anh có viết: “Dân tộc ta muốn trở nên phú cường, phải nuôi lấy đức tự tin, tự cường cho thật hùng hậu. Phải tự ḿnh suy xét cho ra cái cớ hưng vong của ḿnh và t́m phương tự cứu.” Với tác giả Hùng Nguyên, lư do khiến cục diện lịch sử một đất nước đổi thay là v́: “Lịch sử thăng trầm của các dân tộc cho ta biết rằng muốn có thể sinh tồn sung măn, dân-tộc cũng như người phải mạnh mẽ và sáng suốt. Những dân tộc hèn yếu tất nhiên không thể chống lại các địch thủ xâm lấn ḿnh. Nhưng những dân-tộc có nhiều năng lực tranh-đấu mà theo một chánh-sách thiếu khôn khéo cũng rất khó đem sự thắng lợi về ḿnh. Dầu sao, sự hùng cường của một dân-tộc cũng là điều-kiện căn-bản cho sự sinh-tồn...” (Hùng Nguyên, Dân Tộc Sinh Tồn, Chủ-Nghĩa Quốc-Gia Khoa Học, trang 298.).

Tuy nhiên h́nh ảnh trổi vượt nhất nói lên sách lược tranh đấu của Đại Việt Cách Mạng Đảng đó là huy hiệu bông lúa trên đảng huy tượng trưng cho nguồn sống thiêng liêng của dân tộc và mục tiêu tranh đấu để đạt tới sự thịnh vượng chung cho đất nước. Dĩ nhiên không phải chỉ nông nghiệp là nguồn sống duy nhất của người Việt Nam mà đất nước chúng ta c̣n có nhiều lănh vực kinh tế khác cần phải lưu tâm khai thác. Sự sung túc trong cuộc sống vật chất chắc chắn sẽ là tiền đề cho sự trưởng thành và phát triển trong cuộc sống tinh thần. Hai chữ thịnh vượng nếu trong quá khứ có nhắc nhở chúng ta nhớ đến chính sách bành trướng một thời của chủ nghĩa quân phiệt Nhật trước thế chiến thứ hai, hay có làm cho ta liên tưởng đến khối Thịnh Vượng Chung Âu Châu trong những năm của thập niên 60 th́ cũng là cơ hội tốt đẹp để tổ chức cách mạng của chúng ta luôn luôn nhớ đến bổn phận cốt yếu của ḿnh, đó là nỗ lực làm sao để cho nhân dân có một cuộc sống sung túc, vững vàng, mạnh dạn bước vào thiên niên kỷ thứ ba nầy.

 Thưa quư đồng chí,

     Trong bài Diễn văn khai mạc ngày hôm qua, tôi có đề nghị với Đại hội đồng Trung Ương Đảng bộ về Ba sách lược căn bản sẽ là chương tŕnh hoạt động của toàn đảng trong nhiệm kỳ tứ niên 2003-2007 tới đây do t́nh h́nh của đất nước đang thúc đẩy tiến tŕnh dân chủ tự do. Các sách lược đó là:

     1.- Phát triển và năng động hóa cơ sở đảng;

     2.- Những mục tiêu đấu tranh trong giai đoạn mới;

     3.- Chuẩn bị tương lai tươi sáng cho một Việt Nam hậu cộng sản.

Tôi sẽ tŕnh bày từng sách lược cùng các lư do viện dẫn để các đồng chí có thể nắm vững các luận điểm cần thiết trong công tác thảo luận và thực hiện sau này.

     Sách lược thứ nhất: Phát triển và năng động hóa cơ sở Đảng.

Để thực hiện sách lược này cần thiết phải dựa trên một số nguyên tắc được coi là tư tưởng chỉ đạo cho nhận thức và công tác thực hiện, đó là ư thức sáng tạo và cách mạng. Phát triển mà không có tinh thần sáng tạo th́ chắc chắn không mở ra được tới những lănh vực bất ngờ và gặp thấy những nhân tố mới mẻ. Năng động hóa mà không được thúc đẩy với ư chí cách mạng th́ ắt không thổi bùng được lửa trong sinh hoạt của tổ chức và như thế khó ḷng vượt qua nổi những khó khăn.

     Trong bối cảnh chính trị mà xu thế dân chủ đang càng ngày càng trở nên là một xu thế mang tính thời đại, và mặc dầu t́nh h́nh trong nước vẫn đang có những dấu ấn tỏ ra chính quyền cộng sản không khoan nhượng đối với các nhà hoạt động dân chủ khiến cho có người khi sinh hoạt trong tổ chức đă tỏ ra không mấy tích cực, việc t́m đến các nguồn hứng khởi thúc đẩy sách lược phát triển và năng động hóa cơ sở đảng xét ra rất cần thiết.

Các nguồn hứng khởi đó là ǵ?

     Trước hết, đó là tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh của mỗi một cá nhân khi gia nhập tổ chức cách mạng; trách nhiệm giữ ǵn, xây dựng và phát triển tổ chức; hy sinh thời gian, tài lực, vật lực, đôi khi cả mạng sống nữa v́ sự sống c̣n của tổ chức. Trong khi hoạt động cho công tác được giao, người đảng viên t́m thấy niềm vui trong sinh hoạt v́ ư thức được rằng việc làm đó là để xây dựng cho đất nước. Chúng ta hoạt động không phải từng cá nhân riêng lẻ nhưng có chi bộ là tập thể trong đó gồm toàn những người là đồng chí của chúng ta, là nguồn vui và sẵn sàng chia xẻ mọi ư kiến và quan điểm của chúng ta. Chính đảng sử và các tư liệu có liên quan đến chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn sẽ cung cấp cho chúng ta những tư duy và luận điểm cần thiết trong sinh hoạt nội bộ cũng như khi thù tiếp với tha nhân bên ngoài. Vả lại các nguồn tài liệu để viết nên lịch sử đảng cùng những tư liệu có liên hệ tới các nhân vật trong đảng hoạt động trong lănh vực này hay môi trường nọ thường thường đều do chính các cán bộ lănh đạo với kinh nghiệm từng trải viết nên, và thường thường chính do uy tín có được trong khi sinh hoạt bảo đảm giá trị cho những ǵ họ để công viết ra và bảo lưu được với thời gian. Tuy nhiên, có lẽ niềm hứng khởi hơn hết đối với chúng ta đó là việc đất nước chắc chắn phải đi vào những bước chuyển biến mănh liệt, từ h́nh thái độc tài sang chiều hướng dân chủ theo như sự nhận định chung của nhiều người và nỗ lực làm việc chung của những người quốc gia Việt Nam chân chính.

     Thứ đến, đối với phương sách phát triển cơ sở, cán bộ chính là điều kiện trước nhất v́ là người thực hiện công tác. Cán bộ phải có nhiệt tâm và niềm tin trong khi thi hành một dự án đă được chính ḿnh phác thảo ra, với sự góp ư của chi bộ để có thể kiên tŕ thực hiện chu đáo công tác. Nghiên cứu về một đối tượng nhắm kết nạp vào tổ chức ngoài việc t́m hiểu thấu đáo về quá tŕnh, lập trường, tư tưởng của họ mà c̣n phải có một viễn kiến về chính đối tượng đó. Sinh hoạt của cộng đồng cũng là môi trường khá thuận lợi để chúng ta có thể trực tiếp gặp gỡ các đối tượng hay nhân tố tốt, giới thiệu cho họ về tổ chức cách mạng của ta. Trong công tác phát triển, với dự án của kế hoạch tứ niên sắp tới, chúng ta cần thiết phải kiện toàn các văn kiện của đảng như tài liệu về đảng sử, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, tư liệu về các đại hội, tài liệu sinh hoạt, báo đảng và báo ngoại vi luôn luôn là những món ăn tinh thần cần thiết cho tri thức chính trị và sinh hoạt nội bộ. Các vấn đề khác như tiến tŕnh sinh hoạt tại một cơ sở đảng bộ, công tác báo cáo các phần hành liên hệ với trung ương có thể coi là những vấn đề có tính cách kỹ thuật nhưng cũng phải cập nhật hóa luôn.

     Tiếp theo là phương sách năng động hóa cơ sở. Yếu tính của phương sách năng động hóa chính là tính nhạy bén và liên tục làm cho các cơ sở đảng trở nên sinh động nhờ công tác phát triển và ngược lại phát triển được cũng nhờ sinh động. Sự nhạy bén trong nhận thức, nắm bắt nhanh chóng được chủ đề ḿnh hoặc người muốn thảo luận, muốn nói sẽ giúp cho cuộc sinh hoạt hay thảo luận khai triển được chủ đề hoặc t́m thêm được chủ đề mới để thảo luận. Tính liên lục trong sinh hoạt sẽ làm nảy sinh sáng kiến và chính các sáng kiến mới trong khi công tác sẽ khiến ta không cảm thấy nhàm chán, mệt mỏi.

     Trong kế hoạch tứ niên sắp tới, chúng ta đề ra một loạt các biện pháp để tạo thế năng động cho sinh hoạt cơ sở đảng, đại loại như sau:

     Thứ nhất, tổ chức các lớp huấn luyện mục đích đào tạo cán bộ tuyên huấn thuộc cấp bộ khu bộ để những người đă được huấn luyện có thể đảm nhiệm công tác tuyên huấn tại địa phương qua các buổi sinh hoạt nội bộ. Lớp huấn luyện này tương tự như Khóa huấn luyện Sinh Tồn I đă được tổ chức trước đây nhưng chương tŕnh huấn luyện sẽ rút ngắn lại và tập trung nhiều vào các tư liệu nói về đảng sử, chủ thuyết và thời sự. Việc tổ chức sẽ cố gắng thực hiện thường xuyên, thu thập kinh nghiệm, kiện toàn chương tŕnh để có thể chuyển dịch từ địa phương này sang địa phương khác.

     Thứ hai, tổ chức các cuộc hội luận dựa trên một số biến chuyển vừa xảy ra hoặc vào dịp các cuộc lễ có tính cách lịch sử, chính trị, hay văn hóa. Tham dự viên có thể là anh em chúng ta tại địa phương và thân hữu, đồng hương. Mục đích của cuộc hội luận là giới thiệu ta và t́m hiểu bạn. Thuyết tŕnh viên tại cuộc hội luận chủ chốt là anh em cán bộ, dĩ nhiên cũng phải biết phối trí với các lực lượng thân hữu.

     Thứ ba, cán bộ trẻ là thành phần chủ lực trong sinh hoạt đảng tại địa phương hay ở trung ương cần thiết phải đi tiên phong trong công tác đảng vụ, phát biểu ư kiến, đưa ra dự án sinh hoạt, năng nổ liên lạc cơ sở, nhiệt thành bảo vệ cơ quan, cơ sở và bảo mật công tác.

     Thứ tư, lănh đạo và tham mưu là hai mặt của một cơ cấu góp phần lớn vào công tác năng động hóa cơ sở. Lănh đạo là tiên liệu, tham mưu là dự phóng, cả hai đều là trong tư thế sẵn sàng để nhập cuộc. Cán bộ dù thuộc lứa tuổi nào cũng đều phái tích cực dấn thân vào một trong hai vị trí đó.

     Thứ năm, phương cách vận động tài chánh là một trong những vấn đề có thể đem lại hiệu quả cho sách lược năng động hóa cơ sở. Những đồng chí hoạt động có kinh nghiệm trong lănh vực kinh tế tài chánh, đă từng kinh doanh sinh lợi hoặc tổ chức các buổi lạc quyên, văn nghệ, vận động các nhà mạnh thường quân, hằng tâm hằng sản hỗ trợ cho công tác đấu tranh của đoàn thể. Tuy thế, phương cách vận động tài chánh sẽ được thảo luận đóng góp ư kiến từ các cơ sở đảng, nhất là tiền nguyệt liễm, niên liễm cần được thu nạp đều đặn dù là nhiều hay ít.

     Ngoài ra, sách lược phát triển và năng động hóa cơ sở là đường lối buộc chúng ta phải kiểm soát lại cơ sở vốn có để chuẩn bị cho một cuộc hành tŕnh tiến về các vùng đất mới có thể chưa có dấu chân của ta hay đă có nhưng chưa được vững vàng, chắc chắn.

     Trong giai đoạn sắp tới, chúng ta chuẩn bị t́m đặt cơ sở tại một số tiểu bang ở Hoa Kỳ và Canada, mở thêm các đường dây ở Âu châu, nỗ lực t́m nhân tố mới ở Úc châu và Tân Tây Lan. Tại Á châu, tổ chức đảng phải cố gắng có người ở Nhật-Bản và Nam Triều Tiên hoặc Singapore. Vận động để tổ chức một hiệp hội liên kết với cộng đồng Cam-puchia và Lào theo khuynh hướng quốc gia.

     Song song với các nỗ lực t́m nhân sự tốt ở các vùng đất mới đó, chúng ta cố gắng trong thế vận động kết hợp các lực lượng quốc gia chân chính gồm có các tổ chức đấu tranh ở hải ngoại cùng với các nhân tố dân chủ trong nước mặc dù biết rằng công tác này sẽ c̣n rất nhiều khó khăn. Các phương tiện truyền thông ngày nay như sách báo, mạng lưới điện tử sẽ cung cấp cho chúng ta các điều kiện cần thiết để thực hiện cho được công tác đề ra do t́nh h́nh chính trị quốc tế và quốc gia đưa đến. Các đồng chí, cán bộ cũng như đảng viên cũng cần thiết phải liệu cho ḿnh có một vài phương tiện thông tin đó để sử dụng trong giai đoạn sắp tới.

     Sách lược thứ hai: Những mục tiêu đấu tranh trong giai đoạn mới.

     Trong thời đại tin học hiện nay, các phương tiện truyền thông đă giúp cho nhân loại ngày càng gần gũi nhau hơn và do vậy mức độ hiểu biết, thông cảm, và chia sẻ với nhau về những vui buồn của cuộc sống diễn ra rất nhịp nhàng, nhậm lẹ. Các chế độ cộng sản c̣n lại ngày nay đă không thể bưng bít sự thật về đất nước của họ đằng sau cái gọi là bức màn sắt được nữa mà đă bị các mũi nhọn của ngành kỹ thuật siêu đẳng về tin học chọc thủng từ bên ngoài vào hoặc từ bên trong ra. Bằng chứng là cụ thể mới đây chính quyền Hoa Lục đă không thể bưng bít về chuyện bệnh phổi cấp tính (SAR) hoành hành làm chết nhiều người trước sự theo dơi của cả thế giới. Người ta cũng không quên khoảng hạ tuần tháng Sáu năm 2002 các đệ tử Pháp Luân Công đă xâm nhập được vào hệ thống truyền tín hiệu của Sinosat-1 trong suốt một tuần lễ truyền đi những sự thật mà đảng Cộng Sản Trung Quốc giấu diếm, tŕnh bày những ư kiến mà đảng cấm đoán cho dân chúng cả nước nghe.

     Trong giai đoạn tứ niên sắp tới, những mục tiêu đấu tranh của chúng ta sẽ là:

     1. - Xây dựng một tổ chức ngoại vi chiến lược. Kể từ năm 1975 đến nay, tại hải ngoại đă hiện diện rất nhiều lực lượng, tổ chức, đoàn thể chính trị có xu hướng quốc gia đang nỗ lực hoạt động với mục tiêu giải thể chế độ cộng sản và xây dựng một chế độ dân chủ tự do. Mục tiêu đại cương là như vậy nhưng đường lối của các phe phái quốc gia có nhiều điểm dị biệt nên chưa đi đến sự thống nhất trong chương tŕnh và hành động. Chẳng những vậy, đă xuất hiện nhiều sự kiện người quốc gia đả kích, chống báng, bôi nhọ lẫn nhau khiến cho tiềm lực quốc gia trở nên suy yếu, tạo lợi thế cho kẻ thù.

     Căn cứ vào các quyết nghị của Ban Chấp Hành Trung Ương, một tổ chức ngoại vi chiến lược của đảng sẽ được xúc tiến thành lập nhằm đưa ra một số chính sách phù hợp với nhu cầu của t́nh h́nh quốc tế và quốc nội đó là nhu cầu đấu tranh giành lấy tự do, dân chủ, nhân quyền và sự thịnh vượng cho Việt Nam, với phương án kết hợp rộng răi các lực lượng quốc gia chân chính trong tinh thần tương kính, đoàn kết và thực tâm làm việc với nhau v́ các mục tiêu chung. Thành phần nhân sự chủ yếu bước đầu là do đảng phụ trách dưới sự lănh đạo của đồng chí Bùi Hoài Nam. Kế hoạch hoạt động và chương tŕnh làm việc sẽ được đồng chí Bùi Hoài Nam phác thảo cùng với sự hội ư của Ban Chấp Hành Trung Ương. Một số đồng chí có khả năng sẽ được điều vào cơ cấu ngoại vi này bằng những quyết định sẽ được ban hành trong thời gian sắp tới.

     Đây là một công tác có tính chiến lược mà phạm vi hoạt động khá rộng lớn đ̣i hỏi nhiều đức tính như kiên tŕ, tế nhị, và khôn khéo cho nên các đồng chí trong tương lai được ủy nhiệm chắc chắn phải nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành tốt đẹp các phần vụ được giao phó.

     2.- Công tác tuyên vận. Mục tiêu của công tác là tuyên truyền và vận động, ngoài phương tiện báo chí, sách vở ra chủ yếu là sử dụng các kỹ thuật cao của ngành điện tử hiện đại như mạng lưới điện tử, web site, homepage, café-internets v.v. để tuyên truyền cho các chính sách của đảng trong giới trẻ, trí thức. Dĩ nhiên các chính sách đấu tranh của đảng luôn luôn đi sát với những đ̣i hỏi chính đáng của dân tộc. Tuyên truyền ở đây chỉ là một cách nói để hiểu rằng đó là nỗ lực chuyển tải tin tức, tư liệu đến bạn đọc qua những phương tiện thông tin mau lẹ và khoa học nhất. Đội ngũ những người làm kỹ thuật tin học hiện đại của đảng gồm thành phần giới trẻ, dẻo dai, bén nhạy với những lượng thông tin hàng ngày mà họ phải tiếp xúc, chọn lọc và gởi đi. Đối tượng của chúng ta nhắm đến là số lượng ngày càng đông đảo của những người sử dụng máy vi tính trong nước và các giới trí thức ở hải ngoại. Số độc giả trong nước, nhất là những người ưu tư đến tiền đồ của dân tộc, không chấp nhận chế độ cộng sản hiện nay có rất nhiều, và ngấm ngầm tỏ thái độ không phục tùng nhà cầm quyền. Chính họ là những người cần có cơ hội đọc để biết tin tức bên ngoài và thu hoạch kinh nghiệm đấu tranh. Thêm nữa, đảng cần hướng các nỗ lực làm việc vào công tác vận động nhân dân trong nước và hải ngoại ủng hộ các mục tiêu đấu tranh của ḿnh đó là giải thể chế độ cộng sản, xây dựng một chế độ nhân bản cho con người, dân chủ cho xă hội và thịnh vượng cho đất nước. Công tác tuyên vận đó phải có sách lược, có phương tiện mới đạt tới hiệu năng. Cán bộ phụ trách công tác phải là những người ngoài khả năng chuyên môn c̣n phải có nhiệt tâm đối với các phần vụ được giao phó, nhất là tinh thần bảo mật của tổ chức.

     3.- Đối tượng hỗ trợ. Hiện nay chúng ta phải đối đầu với một kẻ thù vừa gian manh lại có thừa phương tiện vũ lực cũng như tiền bạc, cho nên công cuộc đấu tranh sẽ phải rất cam go, nguy hiểm cho nên việc hỗ trợ, kết hợp với các lực lượng thân hữu, đồng chiến tuyến với chúng ta là điều rất cần thiết. Lực lượng chống đối chế độ cộng sản ở ngay trong nước cũng như tại hải ngoại có nhiều, xuất phát từ những lư do khác nhau, có những ước vọng riêng tư cá biệt cho nên cần phải t́m hiểu cặn kẽ trước khi đi vào thế kết hợp. Đối với những cộng đồng, hiệp hội tổ chức v́ lư do tín ngưỡng hay tinh thần đồng hương, đồng châu hoặc đối với những đoàn thể kết hợp v́ mối dây nghề nghiệp hay có một số liên hệ số mệnh trong quá khứ như binh chủng cũ, ngành nghề xưa chẳng hạn, cũng cần điều tra cẩn thận để đánh giá lập trường chính trị của họ trong khi tiến hành thế hỗ trợ, kết hợp. Đối với các đảng phái quốc gia vốn thành tích chống cộng là lập trường quốc gia rơ ràng, sự hỗ trợ của chúng ta cũng phải có những mức độ tương xứng. Đối với các nhân tố dân chủ trong nước và các nhà hoạt động dân chủ đă ly khai ra nước ngoài, chúng ta cũng phải có chính sách rơ ràng trong quan hệ công tác.

     Sách lược thứ ba: Chuẩn bị tương lai tươi sáng cho một Việt Nam hậu cộng sản.

     Sau khi chế độ Xô-Viết và hệ thống chính trị xă hội chủ nghĩa của khối Đông Âu sụp đổ, cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt đă mở ra xu thế dân chủ cho nhiều nước trên thế giới. Trong đống tro tàn của chủ nghĩa xă hội c̣n sót lại bốn nước vẫn cố chèo chống để bơi ngược ḍng lịch sử nhân loại đó là Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Triều Tiên. Các thế hệ cầm quyền ở bốn quốc gia này tuy có những ràng buộc khác nhau đối với chủ nghĩa Mác Lê và tổ chức quốc tế vô sản, nhưng có lẽ vấn đề quyền lực chính là yếu tố thúc đẩy họ bám riết lấy ngọn cờ “chủ nghĩa xă hội” vốn đă rách tả tơi, bảo vệ đến cùng quyền lợi của phe nhóm, bất chấp quyền lợi và nguyện vọng của người dân trong nước và xu thế tự do, dân chủ, nhân quyền của thời đại ngày nay. Một vài nước tuy không rơ ràng theo chế độ cộng sản, như Miến Điện chẳng hạn, nhưng nhà cầm quyền lại chủ trương chế độ toàn trị như là thành lũy kiên cố nhất bảo vệ các đặc quyền đặc lợi của họ, cũng cho chúng ta một h́nh ảnh khái quát về một số rất nhỏ những quốc gia mà trong đó người dân vẫn c̣n là nạn nhân của giai cấp thống trị mặc dù họ cũng là đồng bào, đồng chủng với nhau.

     Tuy nhiên, điều chúng ta cần ghi nhận ở đây là khi nhân loại đă bước vào thế kỷ thứ 21, xu thế dân chủ đă mặc lấy tính thời đại, tính toàn cầu và chắc chắn không thể đảo ngược được, bởi v́ căn bản là người dân đă và đang muốn tự làm chủ cuộc sống và tương lai của chính ḿnh. Gọi xu thế dân chủ là xu thế thời đại bởi lẽ ngày nay nhân loại đă trải qua quá nhiều kinh nghiệm với các thể chế độc tài, độc đảng, nhất là với chủ nghĩa cộng sản vốn xây dựng trên bạo lực và gian dối. Sau thế chiến thứ II, nhân loại đă biết thế nào là độc tài phát xít nhưng cũng bắt đầu nếm mùi vị của chế độ cộng sản ở Liên Xô, Đông Âu, cũng như Trung Quốc. Sau năm 1975, người dân ở bán đảo Đông Dương và qua họ thế giới bên ngoài biết thế nào là chế độ xă hội chủ nghĩa kiểu Nga, kiểu Tàu. Nhân loại thực sự đă trải qua được những kinh nghiệm máu xương để biết được giá trị của các chế độ chính trị trên hoàn vũ, so sánh chế độ cộng sản độc tài với chế độ dân chủ tự do để bày tỏ ước muốn chọn lựa một chế độ chính trị thích hợp để sống. Ngày nay, xu thế dân chủ, trào lưu tự do đang thực sự là biểu trưng cho khát vọng của nhân loại nhất là người dân dưới chế độ áp bức, độc tài, đảng trị cộng sản. Khát vọng đó đă được tỏ bày tại Việt Nam qua sự phản kháng của người dân thấp cổ bé miệng, qua cảm nghĩ của giới cầm bút, nhà báo, các nhà hoạt động dân chủ, các vị chức sắc tôn giáo, thậm chí qua những người đă từng đóng góp nhiều thập niên xương máu với chế độ cộng sản để xây dựng chính quyền cho chế độ đó. Ở hải ngoại xu thế dân chủ cũng đă được coi là lập trường đấu tranh của hầu hết các lực lượng quốc gia chân chính của người Việt tị nạn cộng sản, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, phối trí với trào lưu nhân quyền mà mọi quốc gia trên thế giới đều đang cổ vơ, tán trợ.

     Trong hàng ngũ bốn quốc gia c̣n theo đuổi chủ nghĩa xă hội, Trung Quốc hiện cũng đă có nhiều chuyển biến tiến về xu thế dân chủ trước và sau đại hội XVI chứng tỏ xu thế này là không thể đảo ngược được.

     Nhưng c̣n Việt Nam th́ sao? Những phản ứng tàn bạo và lúng túng của giới cầm quyền Việt Nam trong việc xử lư đối với các nhà hoạt động dân chủ, các chức sắc tôn giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Ḥa Hảo, Cao Đài và các nhóm người Thượng theo Tin lành giáo ở Tây nguyên cho thấy chính quyền vẫn tiếp tục đi vào ngơ cụt. Sự chống đỡ của họ trước các ngón đ̣n tấn công của thế giới về nhân quyền, về tự do tôn giáo, tự do báo chí không gỡ cho họ ra khỏi thế bí mà tiếp tục đẩy họ xuống hố do chính họ đă đào ra.

     Tuy nhiên, một câu hỏi luôn luôn được đặt ra: lúc nào chế độ chuyên chế cộng sản ở Việt Nam sẽ cáo chung? Đây là câu hỏi không chỉ do người khác đặt ra cho chúng ta mà rất nhiều anh em, đồng chí chúng ta vẫn nhiều khi tự hỏi như vậy.

     Thật sự, chế độ cộng sản tại Việt Nam phải cáo chung đó là một sự kiện tất yếu của lịch sử, nhưng cáo chung khi nào th́ c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với mọi người, ai cũng mong cho chế độ cộng sản ở quê nhà mau kết thúc, và nếu kết thúc được sớm chứng nào th́ đó là điều vạn phúc của dân tộc chúng ta chừng nấy. Tuy nhiên, nếu việc đó chưa xảy ra lập tức th́ hăy kiên nhẫn chờ đợi và nỗ lực làm việc để thúc đẩy gấp tiến tŕnh sụp đổ đó, và như vậy chính là thái độ cần thiết của tất cả chúng ta. Cây cổ thụ sắp găy là v́ mối đục ruỗng nát bên trong, bức tường sắp đổ là v́ có kẽ nứt che đậy bằng lớp vữa mỏng sơn phết bên ngoài. Muốn cho cây cổ thụ găy phải có gió lớn hoặc muốn bức tường đổ phải có mưa to xói rộng kẽ nứt. H́nh ảnh biểu tượng đó đă được một nhà chính trị cổ đại ở Trung Quốc ví von cách đây mấy ngh́n năm khi nói về sự tiêu vong của một chế độ hay một triều đại, cũng đặt cho chúng ta một câu hỏi: Ai sẽ là mưa to, gió lớn trong tấn tuồng dâu biển sắp diễn ra trên đất nước chúng ta trong tương lai?

 Thưa quư đồng chí,

     Lấy ba tiêu điểm chiến lược nhân bản, dân chủ và thịnh vượng làm phương hướng đấu tranh và thử đề nghị ba sách lược căn bản làm chương tŕnh hành động trong kế hoạch tứ niên 2003- 2007 sắp tới, trước diễn biến của t́nh h́nh quốc tế thuận lợi cho tiến tŕnh dân chủ trên khắp thế giới và nhất là thông qua thực trạng quốc nội mà tôi đă tŕnh bày khá cụ thể trong bài diễn văn khai mạc ngày hôm qua, chúng ta đă thực sự bước vào một thế trận đấu tranh mới. Đó là thế trận quyết liệt tử sinh giữa quốc gia và cộng sản, giữa chính đạo và tà thuyết, giữa văn minh trong tư tưởng và lạc hậu trong nhận thức. Nỗ lực phát triển và năng động hóa cơ sở đảng chính là làm một cuộc cách mạng trong nhận thức và hành động, xây dựng đảng trên tinh thần sáng tạo và vươn tới các biên cương mới trong những lănh vực tri thức khoa học mới, kết tụ bằng tâm huyết của anh chị em cán bộ, đảng viên và bằng tâm thức của hàng ngũ bạn bè mới cùng hàng chục triệu đồng bào đau khổ trong cả nước đang chuẩn bị đứng lên.

     Trong tinh thần làm việc nghiêm cẩn của một chính đảng cách mạng, tôi tâm thành kêu gọi anh chị em đồng chí, đảng viên mọi cấp bộ sẵn sàng nhận nhiệm vụ lịch sử trong một vận hội mới đang mở ra cho đất nước với tương lai sáng lạn, huy hoàng cho cả một dân tộc. Chủ nghĩa cộng sản cùng toàn bộ cơ chế bất nhân và ruỗng nát của nó chắc chắn sẽ bị ném vào sọt rác của lịch sử.

     Kính chào và cám ơn tất cả quư đồng chí.

HÀ THÚC KƯ