Một Vài Nhận Định Về Vai Tṛ Lănh Đạo Của Mỹ

Và Quan Hệ Mỹ-Hoa.

 

Bùi Diễm

 

Tháng 6 năm ngoái, nhân kỳ họp thường niên của Họp Mặt Dân Chủ tại tiểu bang Maryland, trong một bài nhận định về t́nh h́nh chung trên thế giới, tôi có đề cập tới sức mạnh của Mỹ về quân sự và kinh tế và đặt câu hỏi về vai tṛ lănh đạo của Mỹ trên thế giới. Đồng thời tôi cũng đề cập tới sự kiện Trung Quốc đang vươn ḿnh để trở thành một cường quốc và đặt câu hỏi về quan hệ Mỹ-Hoa. Sở dĩ hôm nay tôi trở lại hai câu hỏi này v́ tôi nghĩ rằng nh́n vào quan hệ Mỹ-Hoa có thể giúp mọi người hiểu rơ thêm về quan hệ Mỹ-Việt, điều mà rất nhiều người trong chúng ta quan tâm đến vấn đề đất nước đang muốn t́m hiểu, sau chuyến viếng thăm nước Mỹ của ông Phan Văn Khải.

 

Tháng 6 năm ngoái, cuộc tranh cử Tổng Thống giữa đương kim Tổng Thống George W. Bush và Thượng Nghị Sĩ John Kerry c̣n đang trong ṿng gay go, chưa ai biết người nào được, người nào thua, trong khi đó th́ trong giới lănh đạo Trung Quốc, sự chuyển quyền từ thế hệ ông Giang Trạch Dân sang thế hệ ông Hồ Cẩm Đào cũng c̣n đang tiếp diễn. Lúc này, 15 tháng qua, ở Mỹ ông Bush đă được người dân tín nhiệm ở lại cầm quyền thêm 4 năm nữa và ở Trung Quốc th́ sự chuyển quyền cũng đă được hoàn tất và ông Hồ Cẩm Đảo đă trở thành Chủ Tịch Nước, kiêm Tổng Bí Thư Đảng và Chủ Tịch Quân Ủy Hội. T́nh h́nh về mặt nhân sự ở cấp lănh đạo ở hai nước như vậy đă rơ rệt. Do đó mà vấn đề được đặt ra là liệu ông Bush được bầu lại có chứng tỏ được khả năng lănh đạo của Mỹ không, và liệu ông Hồ Cẩm Đào và thế hệ thứ 4 của giới lănh đạo Cộng Sản Trung Quốc có giữ vững được mối quan hệ phức tạp giữa Mỹ và Trung Quốc không? Hai câu hỏi, hai yếu tố then chốt chi phối những biến chuyển trong tương lai của cả một vùng Á Châu-Thái B́nh Dương. Việt Nam là một nước ở trong vùng th́ tất nhiên cũng phải chịu ảnh hưởng của những biến chuyển này.                

 

Thực ra th́ đây cũng là điều mà người ta phải chờ đợi. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, thế lưỡng cực không c̣n nữa, c̣n lại chỉ có siêu cường quốc Mỹ với sức mạnh vô song cả về quân sự lẫn kinh tế và Trung Quốc đang trong đà vươn ḿnh lên để trở thành một cường quốc mới trong vùng Á Châu-Thái B́nh Dương. Tất nhiên, trên thế giới không phải chỉ có Mỹ và Trung Quốc, nhưng hoặc v́ ảnh hưởng của những nước Tây phương ở Âu Châu trước kia hùng mạnh nay đă suy giảm, hoặc v́ ngày nay không c̣n những thế liên minh chặt chẽ như thời trước nữa, vai tṛ của Mỹ ảnh hưởng lớn mạnh của Trung Quốc nổi bật hẳn lên. Mới cách đây chưa đầy hai thập niên, ở Âu Châu, Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) giữa các nước lớn ở Âu Châu và Mỹ c̣n là khối có ảnh hưởng quyết định trên chính trường quốc tế, nay đối tượng cũ là Liên Bang Xô Viết đă tan ră nên thế liên minh trở nên rời rạc, có lúc lại c̣n chia rẽ nữa như trong trường hợp chiến tranh Irak, Pháp và Đức công khai đứng hẳn về phía chống Mỹ. Ngoài ra, ngay ở trong hàng ngũ các nước Âu Châu cũng có những rạn nứt như đă được thể hiện qua những cố gắng không thành trong công cuộc xây dựng một hiến pháp chung cho cả khối. NATO, rời rạc, lỏng lẻo, Liên Hiệp Âu Châu th́ c̣n đang trong thời kỳ thai nghén vất vả, rồi lại thêm kinh tế trong t́nh trạng tŕ trệ, thất nghiệp cao, kết quả là ảnh hưởng của những nước Tây phương ở Âu Châu làm mưa làm gió ở thế kỷ trước nay chỉ c̣n ở một mức giới hạn. Đặc biệt về trường hợp của Liên Bang Xô Viết trước kia được coi là thành tŕ vững chắc và khuôn mẫu của cả một khối những chế độ Cộng Sản theo xă hội chủ nghĩa, th́ bây giờ Liên Bang Nga chỉ c̣n là cái bóng mờ của Liên Bang cũ với lănh thổ và ảnh hưởng thu hẹp hẳn lại. Trong bối cảnh của một t́nh trạng không mấy hứng khởi như vậy ở phương trời Âu th́ ở phương trời Đông, con Rồng Trung Quốc một cách ngoạn mục quẫy đuôi trổi dậy. Thay thế “cách mạng văn hóa” bằng một chính sách mở cửa ra thế giới bên ngoài của nhà lănh tụ khôn ngoan Đặng Tiểu B́nh, Trung Quốc trong gần 3 thập niên liền đă biến đổi một nước khổng lồ về nhân số, nhưng c̣n chậm tiến, thành một cường quốc với đà tăng trưởng về kinh tế đều đặn, bền bĩ (trên dưới 9%) và có triển vọng trong một tương lai không xa vượt nền kinh tế Nhật Bản (đứng thứ 2 sau Mỹ) và bắt kịp nền kinh tế Mỹ. Nếu trong thế kỷ trước Trung Quốc bị các đế quốc Tây phương chèn ép và bắt nạt th́ vào đầu thế kỷ này t́nh h́nh đă đổi khác: Trung Quốc nay đứng ngang hàng với các cường quốc khác trên thế giới. Cục diện trên thế giới đă xoay chuyển và như nhận định của một nhà ngoại giao có kinh nghiệm của Singapore, ông Kishore Mabbubani, “lịch sử của thế kỷ thứ 21 có thể sẽ được quyết định bởi mối quan hệ giữa một siêu cường quốc lớn nhất trên thế giới và một cường quốc đang phát triển mạnh nhất hiện nay”.

 

Khả Năng Lănh Đạo Của Mỹ

 

Ở đây tôi không nhắc lại những sự kiện (như đă làm trong bản thuyết tŕnh năm ngoái) chứng thực sức mạnh của Mỹ về hai mặt quân sự và kinh tế, điều mà ai cũng đă nh́n nhận. Nhưng ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay, sức mạnh này đă tạo ra t́nh trạng đặc biệt là ảnh hưởng của Mỹ trở nên bao trùm về mọi mặt và buộc người ta phải có câu hỏi: “Đă đành Mỹ

sức mạnh nhưng liệu Mỹ có khả năng tạo ổn định và trật tự trên thế giới không?” Sau khi hai trung tâm kinh tế, tài chính và quân sự của Mỹ bị tập đoàn khủng bố Osama Bin Laden tấn công ngày 11 tháng 9, 2001, gây thiệt hại lớn về nhân mạng và vật chất, phản ứng của chính quyền Bush tỏ ra thật quyết liệt. Quân đội Mỹ tấn công Afghanistan, coi đây là nơi ẩn náu của quân khủng bố, rồi hơn một năm sau tấn công Irak, với lư do chế độ độc tài Sadam Hussein là mầm mống đe dọa nền ḥa b́nh thế giới, tàng trữ những vũ khí thuộc loại giết người hàng loạt (weapons of mass destruction hay gọi tắt là WMD). Về mặt quân sự th́ quân đội Mỹ đạt được thắng lợi dễ dàng trong một thời gian kỷ lục (ở mỗi nơi chỉ có trong ṿng vài tuần) nhưng nếu quyết định tấn công Afghanistan được dư luận thế giới ủng hộ th́ ngược lại quyết định tấn công Irak bị dư luận ở nhiều nơi chống đối. Chính quyền Bush bị chỉ trích là đă lấy những quyết định đơn phương, không kể ǵ đến Liên Hiệp Quốc, đồng thời chủ trương “đánh phủ đầu” hay “hạ thủ vi tiên” của Mỹ cũng bị lên án như là đă đi ngược lại với luật lệ quốc tế. Thực ra sau khi quân đội của Sadam Hussein bị đánh bại, nếu t́nh h́nh ở Irak sớm được ổn định trở lại và một chính phủ dân sự Irak được sớm bầu lên để chứng tỏ là quân đội Mỹ đă hoàn thành nhiệm vụ và có thể lần lần rút về th́ có lẽ những lời chỉ trích chính quyền Bush cũng lắng dần. Nhưng trái với sự mong chờ của Mỹ, cho đến nay, t́nh trạng ở Irak vẫn là nửa bom nổ gần như hàng ngày và nửa xây dựng dân chủ. V́ vậy mà những thắc mắc lớn về chính sách của Mỹ được đào sâu trở lại, ngay trong chính giới Mỹ cũng như ở nhiều nước khác, vốn sẵn vẫn nghi ngờ cả thiện chí lẫn khả năng của Mỹ. Trước hết sự yếu kém về mặt t́nh báo của Mỹ được phơi bầy ra ánh sáng bởi hết ủy ban điều tra này đến ủy ban điều tra khác, vũ khí thuộc loại giết người hàng loạt mà chính quyền Bush cho rằng chế độ của Sadam Hussein tàng trữ không t́m đâu thấy, rồi hàng ngày số thương vong trong hàng ngũ quân đội Mỹ mỗi ngày một tăng, tuy không nhiều, nhưng cũng đủ làm hao ṃn sự kiên nhẫn chịu đựng của người dân Mỹ. Nếu không kể đến những chuyện bê bối trong vụ đối xử với các tù binh tại trại tù Abu Ghraib, bị công luận lên án là vi phạm nhân quyền thỉ chỉ riêng về trường hợp t́nh h́nh ở Irak hiện nay, những người chỉ trích Mỹ cũng có thể đưa ra nhận xét căn bản là nếu Mỹ không có được những tin tức chính xác về mặt t́nh báo, và không có viễn kiến để dự trù đủ những trường hợp có thể xẩy ra ở nơi này hay nơi khác trên thế giới, th́ làm sao có thể sử dụng được đúng mức sức mạnh của ḿnh về mặt quân sự cũng như về mặt ngoại giao. Và cũng về phương diện này, người ta chê Mỹ là cho đến nay Mỹ có khuynh hướng dựa vào “phần cứng” sức mạnh của ḿnh (hard power, nghĩa là quân sự và kinh tế) hơn là vào “phần mềm” (soft power, nghĩa là thuyết phục qua đường lối ngoại giao), chính v́ vậy mà Mỹ bị chống đối ở nhiều nơi và không tạo được điều kiện để đóng vai tṛ lănh đạo, ǵn giữ ḥa b́nh, xây dựng ổn định và một trật tự mới cho sinh hoạt giữa các nước trên chính trường quốc tế. Nói tóm lại người ta nghi ngờ khả năng lănh đạo của Mỹ, mặc dầu không ai phủ nhận tư thế của Mỹ là một siêu cường quốc.

 

Thực ra, nói cho công bằng, th́ có lẽ lúc này cũng c̣n quá sớm để nói rằng Mỹ đă thất bại ở Irak. C̣n về những lời chỉ trích là chính sách của Mỹ, nói chung, có tính cách đơn phương (unilateralist) hay một chiều quá th́ từ ngày ông Bush được tín nhiệm ở lại cầm quyền thêm 4 năm nữa, qua sự bổ nhiệm bà Condelezza Rice thay thế tướng Colin Powell trong chức vụ Ngoại Trưởng, người ta cũng đă thấy bắt đầu có sự đổi thay. Sáng kiến của bà đi thăm một số lớn các nước ở Châu Âu, Châu Á, Phi Châu và Nam Mỹ trong một khoảng thời gian có vài tháng, cũng như thái độ uyển chuyển và tương đối mềm dẻo của bà trong những lănh vực quan hệ với các nước Âu Châu hay đối phó với Iran và Bắc Hàn, tỏ ra nền ngoại giao của Mỹ đă có chiều hướng muốn quay về với khuynh hướng đa phương (multilateralist). Đây chính là quan điểm của nhiều nhà học giả và ngoại giao ở nhiều nơi v́ họ cho rằng dầu Mỹ có sức mạnh đến đâu chăng nữa th́ cũng vẫn cần đến sự hợp tác của những nước khác. Không có sự hợp tác về mặt t́nh báo của những nước khác th́ Mỹ cũng khó đẩy mạnh chiến dịch chống khủng bố, và không có sự đóng góp thêm của những nước bạn th́ Mỹ cũng không thể một ḿnh gánh vác nổi việc tái thiết Irak hay Afghanistan. Ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay, Mỹ không thể quay về với chủ trương biệt lập (isolationism) của thế kỷ trước, nhưng đồng thời cũng không thể đơn phương hành động trong mọi trường hợp. Nói một cách khác, như đă được nhận xét rất chính xác bởi một nhà ngoại giao kỳ cựu “Mỹ không cần phải xin phép các nước khác để hành động, nhưng rơ ràng là muốn thành công, Mỹ phải cần đến sự ủng hộ của thế giới bên ngoài” và rồi đây tư cách và khả năng lănh đạo của Mỹ sẽ được đánh giá qua sự kiện Mỹ có nh́n nhận và thực hành những điều đó không.

 

Quan Hệ Mỹ-Hoa

 

Tạo hóa luôn luôn dành cho nhân loại những chuyện bất ngờ. Hai ông Bush và Hồ Cẩm Đào đáng lẽ đă gặp nhau trong mấy ngày vừa qua, nhưng thiên tai băo lụt bất ngờ Katrina tại miền Nam nước Mỹ tuần trước đây đă đ́nh hoăn cuộc họp thượng đỉnh này. Thật không may v́ cuộc họp đă được dự trù từ lâu và chưa lúc nào việc duyệt xét ở cấp cao mối quan hệ đa dạng và ngày càng phức tạp giữa hai nước lại cần thiết như lúc này. Đa dạng v́ hồ sơ những vấn đề giữa hai nước gồm đủ mọi loại, từ kinh tế, tài chính, cho đến chính trị, văn hóa, và an ninh chiến lược, c̣n phức tạp th́ v́ một mặt hai bên đều như mong muốn có sự ổn định trong mối quan hệ song phương, nhưng một mặt khác th́ nghi kỵ và lo ngaị nhiều khi vẫn ẩn hiện dưới một bề ngoài hợp tác.

 

Riêng về mặt kinh tế, tài chính th́ rơ rệt quyền lợi của hai bên đều như bị ràng buộc vào nhau. Trung Quốc cần có vốn đầu tư và kỹ thuật của Mỹ, đồng thời cần cả thị trường rộng lớn của Mỹ để có thể bán hàng cho Mỹ, trong khi đó th́ Mỹ cũng đầu tư vào Trung Quốc bằng cách hùn hợp với những công ty địa phương để sử dụng nhân công rẻ tại đây. Tuy rằng trong giai đoạn phát triển, Trung Quốc phải nhờ nhiều vào đầu tư và kỹ thuật của Mỹ, nhưng ngược lại nền kinh tế của Mỹ cũng xuất khẩu sang Trung Quốc những mặt hàng do kỹ nghệ tân tiến của Mỹ sản xuất, và đồng thời cũng nhập khẩu được những mặt hàng rẻ tiền thuộc loại đồ dùng thường ngày cho người dân Mỹ do Trung Quốc sản xuất. Nói một cách khác th́ hai nền kinh tế gần như có tính cách bổ xung cho nhau, mặc dầu về mặt trao đổi giữa hai bên, số thâm thủng về mậu dịch của Mỹ gần đây lên tới hàng trăm tỷ mỗi năm và làm cho số dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc lên tới cả 6 hay 7 trăm tỷ.

 

Vượt ra khỏi lănh vực quyền lợi về mặt kinh tế, không kém phần quan trọng trong mối quan hệ giữa hai nước là vấn đề an ninh chiến lược. Cả hai bên đều tuyên bố muốn duy tŕ t́nh trạng ổn định ở trong toàn vùng Châu Á-Thái B́nh Dương. Về phần Mỹ th́ v́ c̣n bị vướng mắc vào chiến trận ở Irak, dĩ nhiên Mỹ không muốn phải lo nhiều ở những nơi khác. C̣n đối với Trung Quốc th́ ổn định là điều kiện tiên quyết để có thể tiếp tục phát triển cũng như đối phó với những vấn đề khó khăn trong nội bộ c̣n đang ngổn ngang, và trách nhiệm tổ chức Thế Vận Hội 2008. Nhưng dù nhu cầu ổn định có thực sự được chia sẻ chăng nữa th́ trong thời gian gần đây sự nghi kỵ giữa hai bên vẫn là điều mà giới quan sát quốc tế đặc biệt ghi nhận. Trung Quốc nghi rằng Mỹ muốn ngăn chặn hoặc làm chậm lại bước tiến của Trung Quốc, không muốn Trung Quốc trở thành một cường quốc quá mạnh ở trong vùng Thái B́nh Dương. Chứng cớ là Mỹ đẩy mạnh quan hệ với Nhật Bản và Ấn Độ là hai cường quốc khác ở trong vùng, tiếp tục bán khí giới cho Đài Loan, ngoài ra Mỹ lại thiết lập một số căn cứ quân sự ở miền Trung Á và cổ vơ cho phong trào dân chủ ở đây, điều mà Trung Quốc coi là một mối đe dọa tiềm tàng ở miền Tây Cương. Về phần Mỹ th́ trước hết Mỹ ở trong t́nh trạng bán tin bán nghi không biết rồi đây ảnh hưởng càng ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc về mọi mặt, từ kinh tế đến quân sự, sẽ có thể va chạm với quyền lợi của Mỹ tới mức nào. Mới trong ṿng hai tháng gần đây, Mỹ đă được mục kích Trung Quốc cùng kư với Nga tại một buổi họp thượng đỉnh của một số nước vùng Trung Á trong Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải (gọi là The Shanghai Six) một bản thông cáo chung gián tiếp chỉ trích Mỹ về sự can thiệp vào nội bộ của những nước trong vùng, thể hiện một mục đích chung (không cần che đậy) của Nga và Trung Quốc muốn đẩy ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi vùng. Rồi tiếp đến là vụ thao diễn quân sự chung của hơn 10 ngàn quân của Nga và Trung Quốc tại miền biển biên giới giữa hai nước. Hơn nữa, Mỹ lại c̣n thấy Trung Quốc thiết lập quan hệ với một số nước sản xuất dầu mà, v́ lư do này hay lư do khác, Mỹ không có cảm t́nh như Sudan, Zimbawee, Venezuela, Iran hay Miến Điện. Đă đành trong cơn “khát dầu”, Trung Quốc cần phải t́m kiếm nơi mua dầu (Trung Quốc muốn mua cả công ty dầu UNOCAL của Mỹ nhưng không thành), nhưng vấn đề là chính sách về năng lượng của hai bên phải được phối hợp để tránh những chuyện va chạm quyền lợi trong cùng một lănh vực, ấy là chưa kể đến những “điểm nóng” như eo biển Đài Loan và bán đảo Triều tiên mà không bên nào kiểm soát nổi. Chừng ấy vấn đề, vấn đề nào cũng có thể gây khó khăn cho hai bên, và cũng v́ vậy mà t́nh trạng chung của mối quan hệ song phương lúc này là một t́nh trạng ḍ dẫm thận trọng, không bên nào có được một chính sách dứt khoát, mặc dầu từ phía nội bộ của mỗi bên đều có những áp lực của những nhóm quyền lợi hay thành phần cực đoan. Cũng may là về phương diện này giữa hai bên đă có sự thỏa thuận để thiết lập một thể thức thường xuyên trao đổi quan điểm về những vấn đề tế nhị. Chỉ tiếc rằng việc trao đổi quan điểm cần thiết ở cấp cao (nghĩa là giữa hai nhân vật chủ chốt, Bush và Hồ Cẩm Đào), v́ những biến chuyển bất thường nay phải đ́nh hoăn.

 

Việt Nam Giữa Trung Quốc Và Mỹ

 

Ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay, ngoài ra lại ở một vị trí chiến lược do lịch sử và địa dư định đoạt, Việt Nam khó tránh được ảnh hưởng của thế giới bên ngoài, đặc biệt từ phía nước láng giềng khổng lồ ngay sát nách tại biên giới miền Bắc (và đồng thời cũng là nước bạn đàn anh theo xă hội chủ nghĩa) và từ phía siêu cường quốc Mỹ có mặt ở khắp nơi trong vùng Thái B́nh Dương. Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam lúc nào cũng phải nh́n trước nh́n sau như để t́m chỗ đứng cho hợp với t́nh thế, và chọn hướng đi trở thành vấn đề quan trọng cần phải cân nhắc đối với nhà cầm quyền, thuộc khuynh hướng nào chăng nữa, Cộng Sản hay không Cộng Sản. Về phương diện này, không cần trở lại thời lịch sử xa xôi và nh́n ngay vào lịch sử cận đại th́ người ta cũng có thể ghi nhận được hai trường hợp: hoàn cảnh của đất nước sau khi chiến tranh chấm dứt năm 1975, và chuyến viếng thăm nước Mỹ gần đây của ông Phan Văn Khải, như là hai trường hợp điển h́nh về sự lựa chọn của nhà cầm quyền Cộng Sản trong những hoàn cảnh đặc biệt.

 

Tôi muốn nói trước hết đến trường hợp năm 1978: 3 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, chế độ Cộng Sản Việt Nam bỏ lỡ cơ hội có quan hệ b́nh thường với Mỹ. Về trường hợp này, ông Trần Quang Cơ, cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao và cũng là người trong cuộc của chế độ Hà Nội viết trong một tập hồi kư được gọi là “Hồi Ức và Suy Nghĩ” năm 2003 như sau: “Tôi thật sự đau xót v́ ta đă bỏ lỡ cơ hội b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng”. Cơ hội đă bị bỏ lỡ v́ lúc đó dưới thời Tổng Thống Carter, qua lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Cyrus Vance (ngày 10 tháng 1, 1977), chính phủ Mỹ muốn b́nh thường hóa với Việt Nam vô điều kiện trong khi đó th́ Hà Nội c̣n hăng say chiến thắng và đă chọn lựa kư với Liên Xô bản Hiệp Ước Hữu Nghị (1978), đ̣i Mỹ phải bồi thường chiến tranh dưới h́nh thức viện trợ cho Việt Nam hơn 3 tỷ dollar, điều mà không chính quyền Mỹ nào có thể chấp nhận được (như vậy có nghĩa là 17 năm sau, đến 1995 Việt Nam mới lại có cơ hội trở lại). Và cũng v́ Hà Nội chọn đứng về phía Liên Xô để tấn công Căm Bốt mà ông Cơ phải viết: “Chỉ hơn 4 năm sau khi giải phóng đất nước, ta lại bị xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu với Trung Quốc kẻ đă từng là đồng minh chiến lược của ta trong 30 năm... Nửa cuối thập kỷ 70 là thời gian ta chồng chất nhiều sai lầm về đối ngoại nhất trong suốt lịch sử sau cách mạng năm 1945”.

 

Trên đây là chuyện vài chục năm về trước. Chế độ Hà Nội chọn con đường ư thức hệ nên lúc đó chưa hẳn đă muốn có quan hệ b́nh thường với Mỹ và ngay cả đối với những nước anh em trong khối các nước chủ nghĩa xă hội, họ cũng có lựa chọn (đi với Liên Xô và măi đến 1991 mới có quan hệ b́nh thường trở lại với Trung Quốc). Hậu quả của tất cả những sự lựa chọn hướng đi đó là t́nh trạng tụt hậu ngày nay. Và bây giờ 30 năm sau, trong những hoàn cảnh mới, ở vào vùng ảnh hưởng của cả Trung Quốc lẫn Mỹ, nhưng bị chèn ép quá đáng bởi nước bạn đàn anh, phải chăng chuyến đi Mỹ của ông Phan Văn Khải mới đây có ư nghĩa là một sửa sai trong sự chọn lựa hướng đi? Nếu quả thực là sửa sai th́ nhà cầm quyền Việt Nam cũng nên thận trọng v́ tôi nghĩ rằng cho đến nay, từ phía những người Cộng Sản Việt Nam (cũng như từ phía những người quốc gia Việt Nam), những nhận xét về Mỹ chỉ là những nhận xét vội vàng, thiếu hẳn chiều sâu cần thiết cho một sự t́m hiểu đứng đắn. Chính quyền Bush đồng ư để ông Phan Văn Khải sang thăm nước Mỹ không có nghĩa là Mỹ đă hay cần ôm chân Việt Nam để “bao vây” Trung Quốc. Không hiểu Hà Nội có thực sự tin chuyến đi của ông Khải là một thành công lớn không, hay chỉ là một lập luận tuyên truyền, nhưng hầu hết những quan sát viên quốc tế theo dơi vấn đề đều cho rằng đối với Mỹ, tiếp ông Khải chỉ được coi như là tiếp lấy lệ, và chỉ có một giá trị biểu tượng tương đối, tiện th́ làm chứ không thuộc vào một loại ưu tiên nào đáng kể cả, do đó không nên quan trọng hóa vấn đề. Lư do rất đơn giản về thái độ của Mỹ đối với Việt Nam là lúc này Mỹ c̣n phải đối phó với nhiều khó khăn trong nội bộ cũng như ở Irak và nhiều nơi khác, c̣n nếu nói đến chuyện chiến lược lâu dài th́ là chuyện xa xôi quá (Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong phần thảo luận). Thực ra trong t́nh trạng hiện tại của mối quan hệ Mỹ-Hoa, Việt Nam không nên nghĩ là nên đứng về phía này hay phía kia v́ như thế dễ có thể mang họa cho Việt Nam. Kinh nghiệm lịch sử và thực tế phũ phàng của chiến tranh Việt Nam đă cho thấy là trên chính trường quốc tế chỉ có quyền lợi là yếu tố căn bản, hơn nữa t́nh h́nh trong toàn vùng Á Châu-Thái B́nh Dương lúc này có nhiều biến chuyển và thế liên minh chiến lược giữa các nước lớn nhỏ trong vùng cũng có thể thay đổi một khi cục diện biến đổi. Nếu cần một chỗ “tựa” th́ nhà cầm quyền nên nghĩ rằng không có điểm tựa nào vững chắc hơn là sự ủng hộ của người dân trong nước, ủng hộ một chính sách trong sáng hướng tới hợp tác trong tinh thần b́nh đẳng với cả Trung Quốc và Mỹ, cũng như với những nước khác trong vùng.

 

Chuyến viếng thăm nước Mỹ của ông Phan Văn Khải có lẽ đă làm cho nhiều người có cảm tưởng rằng v́ bị Trung Quốc chèn ép nên Việt Nam đă phải quay về với Mỹ. Riêng phần tôi, tôi nghĩ rằng đối với những người cầm quyền trong nước cũng như đối với những chính trị gia đang tranh đấu cho tự do, dân chủ và một tương lai sáng sủa hơn cho Việt Nam, nếu không đánh giá được đúng mức chính sách của Mỹ, không đo lường được một cách chính xác thái độ của người Mỹ đối với vấn đề Việt Nam th́ không thể nào hoặch định được một đường lối phù hợp với quyền lợi lâu dài của đất nước, cũng như với trào lưu tiến hóa của thế giới bên ngoài.

 

 

Bùi Diễm, ngày 6 tháng 9, 2005