KẾ-HOẠCH VÀ PHƯƠNG-THỨC

VẬN-ĐỘNG HOA-KỲ VÀ QUỐC-TẾ

 

Nguyễn Ngọc Bích

 

     Cuộc viếng thăm chính-thức của ông Phan Văn Khải đến Hoa-kỳ, trong đó có cả cuộc gặp gỡ tại Toà Bạch-ốc vào ngày 21/6/2005, phải xem là một cao-điểm trong quan-hệ Hoa-kỳ – VNCS sau 10 năm tái-lập bang-giao ở cấp đại-sứ. Ở trong nước, cuộc viếng thăm được đánh bóng lên như một thành-công rực rỡ nhưng ngay trong nội-bộ Đảng CSVN người ta cũng nh́n ra những cái c̣n bất cập và nhiều sự ngượng ngập.

     Dù như ông Khải có gặp ông Bush ở Toà Bạch-ốc thật đó song tất cả những nghi-lễ đă bị giản lược đến mức tối-đa: không thảm đỏ, không một phát súng, không có một chút ǵ là lễ-nghi quân-cách như chào cờ hai nước, ông Bush ngồi khi bắt tay ông Khải, hai người gặp nhau không tới nửa giờ và khi ra không có họp báo chung và đến chiều mới có thông-cáo chung mà rơ ràng viết một cách rất vội vàng, như chiếu lệ. Trong khi đó th́ biểu t́nh của gần một ngh́n đồng-bào hải-ngoại cầm cờ vàng ba sọc đỏ, la ó, đốt h́nh nộm Hồ Chí Minh, v.v... được phóng chiếu nguyên ngày trên hầu hết các đài truyền h́nh của xứ này và trên thế-giới, đặc-biệt trên CNN th́ cứ hàng giờ lại chiếu lại, không kể ngày hôm sau hầu hết các báo lớn đều có bài với h́nh nói về cuộc biểu t́nh hơn là về những thành tựu không có bao nhiêu của ông Khải.

     Cái đau đớn nhất của ông Khải là không ở đâu trong những chỗ ông đi qua, từ Seattle, WA, về đến Hoa-thịnh-đốn, rồi đi New York và Boston, kể cả sang Canada, h́nh ảnh của ông là một loại người mà người Mỹ gọi là “a dour communist” (“một anh CS mặt bí xị, hăm tài”), không đâu thấy được ông ta cười tự-nhiên hay thoải mái. Đâu đâu cũng gặp cộng-đồng chống đối, ở Seattle là chỗ độc-nhất ông thử gặp báo chí th́ fiasco: có năm câu hỏi th́ bốn câu đă là móc họng, đến khi bị kêu là “nói láo” th́ ông nổi sùng hét “Đuổi nó ra.” Nghĩa là không c̣n ra thể-thống ǵ, và sau đó tất cả các cuộc họp báo đều bị huỷ bỏ. Đến New York, trên danh nghĩa th́ ông được (vinh-dự) kéo chuông mở màn cho một ngày buôn bán chứng-khoán ở Wall Street (mà Hà-nội gọi là “phố Uôn”), đầu năo của thế-giới tư-bản, song chính thật có ǵ nhục nhă cho bằng một người CS giờ đây rung chuông cho tư-bản, cái chế-độ mà người CS suốt ngày nguyền rủa là “chúng tao sẽ chôn chúng bây.”

 

     Ưu-thế của người CS

 

     Sở dĩ tôi phải hơi dông dài như trên đây về cuộc viếng thăm của ông Khải đến Mỹ là v́, nếu ta không nh́n ra đâu là những ưu-thế của người CS trong lúc này và đâu là ưu-thế của ta, của người Việt hải-ngoại, th́ măi măi chúng ta sẽ không t́m ra con đường đi đúng trong việc vận-động Hoa-kỳ và quốc-tế nhằm tranh đấu cho dân-chủ và tự do ở Việt Nam.

     Thật vậy, người CSVN trong lúc này có một số ưu-thế mà ta không nên phủ-nhận. Qua kinh-nghiệm đau thương ở Campuchia, ở 10 năm (1979-89) con số quân-đội CSVN bị tử vong ở xứ Chùa Tháp gần bằng con số người Mỹ chết trong chiến-tranh Việt Nam để cuối cùng vẫn phải rút quân về - chấm dứt h́nh ảnh một đội-quân bách chiến bách thắng. Chiến-tranh Campuchia cũng như chiến-tranh biên-giới với Trung-Cộng (tháng 2 - tháng 3 năm 1979) cho thấy t́nh hữu-nghị keo sơn, “môi hở răng lạnh” của người CS xem ra cũng không hơn nước lă bao nhiêu. Các phản-xạ truyền-thống trở lại, chứng tỏ là cái ǵ ở trong máu huyết th́ vẫn bền hơn, có giá trị hơn những điều người ta thường nói ở cửa miệng.

     Trong hoàn-cảnh đó, người Mỹ đánh giá là tự-ái dân-tộc của người Việt vẫn là yếu-tố đáng tin cậy hơn là t́nh đồng-chí dựa vào chủ-nghĩa mà bấy lâu nay người CS thường rêu rao. Bằng-chứng hùng hồn là cuộc gặp gỡ, có kể lại trong hồi-kư của Trần Quang Cơ, giữa mấy lănh-tụ CSVN và Trung-quốc ở Trùng-khánh vào năm 1990, theo đó th́ phía Trung-quốc đă bác bỏ hoàn-toàn lập-luận của Việt Nam cho rằng hai nước ở vào cùng một phe.

     Do đó, với cái tính thực-tế và thực-dụng sẵn có của họ, họ sẵn sàng đi với Việt Nam để ngăn chặn Tàu - dù là Việt Nam vàng hay Việt Nam đỏ. Tiền-lệ không phải là không có: trong Thế-chiến II, chính OSS Mỹ đă đi chơi với Việt-minh của ông Hồ mặc dầu họ biết rất rơ ông Hồ là nhân-viên cao-cấp của Đệ-tam Quốc-tế. Để đánh Hitler, Hoa-kỳ không ngại đi chơi với Stalin dù như ngay sau khi Hitler bị đánh bại th́ Anh-Mỹ lại quay liền lại chống Stalin trong cuộc chiến-tranh trường-kỳ gọi là “chiến-tranh lạnh” (1947-91).

     Ta có thể không đồng-ư với lối chơi hai mặt này của Hoa-kỳ (hay nói cho đúng của bất cứ cường-quốc nào) nhưng ta cần biết đó là một sự thật. Có thế th́ ta mới khỏi bị mắc lỡm, khỏi nuôi những kỳ-vọng mà xem ra thiếu thực-tế, đúng hơn là ảo-vọng.

 

     Ưu-thế của người Việt hải-ngoại

 

     Vậy th́ ưu-thế của chúng ta ở đâu, có không?

     Ưu-thế của chúng ta giờ đây là:

     Thứ nhất, chúng ta rải rắc khắp năm châu bốn bể. Sự-thể này cho phép chúng ta mở rộng tầm nh́n ra toàn-thế-giới, có nghĩa là ta có cơ-hội làm như thế (dù số lớn chúng ta chưa chắc đă chịu mở mắt ra mà vẫn chơi tṛ chính-trị làng xă, uỵch thụi nhau ngay ở trong cái cộng-đồng nhỏ bé có tính-cách địa-phương của chúng ta).

     Thứ hai, nhiều người trong chúng ta, sau hơn 30 năm ở hải-ngoại, đă hội-nhập thành công các xă-hội sở-tại. Đây là một ưu-điểm rất lớn, cho phép chúng ta có phản-ứng tức-khắc khi có chuyện ǵ không hay xảy ra ở trong nước.

     Thứ ba, đứng về mặt kiến thức, chính người CS cũng phải công-nhận là ta có trên 300.000 chuyên-viên thuộc đủ các ngành, kể cả các ngành mũi nhọn, mà một t́nh-h́nh thuận lợi hơn sẽ cho phép không ít những người này - v́ một số không nhỏ vẫn c̣n có ḷng đối với quê hương, đồng-bào - trở về giúp nước dưới một h́nh-thức này hay h́nh-thức khác.

     Thứ tư, về mặt kinh tế, chỉ những con số không cũng đủ nói lên tầm vóc của chúng ta. Giờ đây, chưa đầy 3 triệu người hải-ngoại gửi có thể lên đến 4 tỷ đô-la một năm về cho thân-nhân, bà con cô bác và bạn bè ở quê nhà. Thế có nghĩa là chúng ta cho không, không điều-kiện (no strings attached), hơn cả thế-giới cho Hà-nội vay trong một năm (khoảng 2,5-2,6 tỷ). Số tiền này đặc-biệt quan-trọng v́ sau hơn 10 năm yểm-trợ tái-thiết cho Hà-nội, quốc-tế cũng đă bắt đầu mệt mỏi và cảnh cáo Hà-nội là không thể trông chờ một mức tiếp tay tương-tự măi măi như thế được. Nói cách khác, nguồn tiền đó sắp cạn dần để có thể ít năm nữa sẽ không c̣n bao nhiêu, không đáng kể nữa. Lúc bấy giờ, tiền của đồng-bào hải-ngoại gửi về trong nước lại càng quư hơn nữa mặc dầu số tiền này, với thời-gian, cũng sẽ bớt đi v́ thế-hệ trẻ ở hải-ngoại càng ngày càng không c̣n thấy ràng buộc về mặt t́nh-nghĩa hay t́nh-cảm với nơi quê nhà.

     Thứ năm, chúng ta có tự do, có những nguồn thông tin mở, gần như vô biên, và có thể đi lại dễ dàng. T́nh-cảnh này lẽ ra phải giúp chúng ta có nhiều tổ-chức đứng đắn hơn bây giờ, trong đủ mọi ngành nghề. Sự yếu kém của chúng ta về mặt tổ-chức phải chăng phản ánh một t́nh-trạng chia rẽ quá đáng, bởi đủ thứ nghi ngờ chúng ta mang theo từ quá-khứ, bởi hiệu-ứng của tuyên-truyền đối-phương, bởi tính nông nổi của một số người cho rằng làm ǵ cũng phải có kết-quả ngay trước mắt, nhỡn-tiền?

 

     Trong khung-cảnh này, chúng ta có thể làm được ǵ?

 

     Làm ǵ hay muốn dựng ra kế-hoạch th́ cũng phải thực-tế thôi. Thiết-tưởng trên đây là những thực-tế mà chúng ta có thể ít nhiều đồng-ư.

     Dựa trên thực-tế thế-giới ngày hôm nay, chúng ta có thể nói là giải-pháp bạo-lực sẽ không hay khó thành công v́ ít có khả-năng được sự yểm-trợ của bên ngoài, một điều chưa chắc chúng ta đă muốn, c̣n thực-lực của chúng ta về mặt này th́ quá yếu, nếu cách đây 2-3 chục năm th́ c̣n có lư chứ ngày hôm nay th́ đă bị xói ṃn đi nhiều mà lớp trẻ th́ họ đă đi vào những hướng khác.

Cũng dựa trên thực-tế đó th́ sự nôn nóng không cũng không mang lại kết-quả. Nhiều người lớn tuổi dễ bị mặc-cảm này, sợ rằng đến khi ḿnh nhắm mắt vẫn không được thấy một nước Việt Nam tự do, dân-chủ; trong khi đó th́ CS vẫn có vẻ đứng vững, chắc như đá, vững như đồng. Chúng ta cần nôn nóng, v́ đó là chuyện nước, đó là chuyện đuổi theo một thế-giới bay vùn vụt, song đó nên là một sự nôn nóng có kế-hoạch, có hành-động thực-tiễn để dễ có cơ thành-tựu.

     Kế-hoạch, theo tôi, nên là những kế-hoạch nhỏ, trong tầm tay của ḿnh, của mỗi người trong chúng ta, của nhóm hay tổ-chức của chúng ta, chỉ cần cố gắng làm sao cho khỏi có sự trùng-dụng. Nếu thấy ai hay nhóm nào làm một việc ǵ tốt rồi th́ hẵng cứ để cho họ làm chuyện đó, đừng tranh việc làm ǵ. Hăy nghĩ sang chuyện khác để mà làm. Nên yểm-trợ cho nhau, nên phối-hợp với nhau. Tất cả nên làm trong tinh-thần tích tiểu thành đại. Nhưng đă làm th́ phải bền chí, đừng bỏ cuộc sau đôi ba lần thất bại hay thấy không có kết-quả liền tay.

     Nếu việc ǵ quá lớn th́ chia việc ra với nhau mà làm. Một thí-dụ: Gần đây, lần đầu tiên Hà-nội ra cuốn bạch-thư (mà họ kêu là “sách trắng”) về Nhân-quyền. Điều này chứng tỏ là Hà-nội hiểu rất rơ họ không có thể cứ miệng nói nhân-quyền rồi tay làm chuyện bậy được măi. Nghĩa là lời nói của họ bị thế-giới chê là không đi đôi với việc làm. Thành thử họ phải ra cuốn “sách trắng” này. Tuy-nhiên, đây lại là một cơ-hội để cho ta duyệt lại những điều họ huênh hoang và trả lời họ từng điểm một. Tôi đồng-ư với anh Ngô Văn Hiếu của Mạng Lưới Nhân Quyền khi anh đề nghị là mỗi người, mỗi nhóm trong chúng ta lo phân-tích, trả lời rạch ṛi một phần của tài-liệu này. Tỷ-dụ như để cho các tôn-giáo trả lời từng phần áp-dụng riêng vào tôn-giáo, giáo-hội của họ là rất đúng. Nhưng muốn cho công việc có kết-quả, chúng ta phải làm đồng-bộ, nhịp nhàng, phải có người phối-hợp để cho đến một ngày nhất-định nào đó, cuốn sách phân-tích của chúng ta phải ra cho kịp thời và đầy đủ, tŕnh-độ thuần nhất (chứ không phải chỗ kỹ, chỗ sơ, chỗ chặt chẽ, chỗ c̣n nhiều sơ hở). Tóm lại, một công việc nhiêu khê chứ không đơn giản.

     Cứ riêng về nhân-quyền không thôi, tôi thấy chúng ta vẫn thiếu một cuốn ra hàng năm liệt-kê hết cả những vấn-đề nhân-quyền c̣n tồn đọng ở Việt Nam, tương-tự như các cuốn của Bộ Ngoại-giao Mỹ (State Department), Amnesty International (AI) hay Human Rights Watch (HRW) ra hàng năm, hoặc Committee to Protect Journalists (CPJ) và Reporters sans Frontières (RSF) ra về t́nh-h́nh báo chí. Nhưng v́ họ phải làm cho nhiều nước nên hơi sơ sài, trong khi đó nếu chúng ta tập trung vào Việt Nam không thôi th́ chúng ta có thể cặn kẽ được hơn và sau ít năm, cuốn của chúng ta sẽ được coi là nguồn thông tin căn-bản và đầy đủ nhất về t́nh-trạng nhân-quyền ở Việt Nam.

     Năm 1996-98, Hội-nghị Liên-kết quyết-định phối-hợp một số đoàn-thể và hội-đoàn tổ-chức những cuộc triển lăm về nhân-quyền ở Việt Nam. V́ nhiều đoàn-thể tham-gia và làm việc nhịp nhàng nên tôi cho là những nỗ lực của hai năm đó rất thành công. Tôi đă đi Úc, đi Pháp trong những năm đó và thấy vấn-đề nhân-quyền ở Việt Nam được đặt ra ở khắp nơi, trong Quốc-hội Úc, ở Gare du Sud ở Pháp. Hiện nay, tôi thiết nghĩ chúng ta có thể tập trung vào vấn-đề thiếu tự do tôn-giáo ở Việt Nam và làm cho cả thế-giới phải ư-thức về t́nh-trạng này ở Việt Nam. Hoặc các chị có thể tập trung vào vấn-đề phụ nữ Việt Nam bị bán làm vợ, làm điếm ở khắp Đông-Nam-Á, v.v... Chứ không phải ai cũng nên chỉ nhắm vào các vấn-đề gọi là thuần- tuư chính-trị.

 

     Phương-thức

 

     Về phương-thức, tôi thiết nghĩ chúng ta càng ngày càng có nhiều anh chị em giỏi về điện-ảnh, về âm-nhạc, về hư- hoạ, về đủ mọi h́nh-thức tŕnh bày vấn-đề. Chúng ta nên khai thác tối-đa những tiềm-năng đa dạng đó của tuổi trẻ hải-ngoại, giao cho các em những dự-án trong đó các em có thể thi thố tài-năng của các em chứ không nhất thiết chỉ làm một kiểu theo người lớn.

     Sách báo cũng là những h́nh-thức quan-trọng nhưng ngoài tiếng Việt ra, chúng ta cần có những sách đứng đắn viết rất chững chạc, dễ đọc trong các thứ tiếng để những sách này được dành chỗ ở trong thư-viện các nước, các trường, v.v.

     Chúng ta cũng cần tập dân-chủ trước ở ngoài này bằng cách tạo ra một xă-hội dân-sự với tinh-thần cao-độ tư-nhân tự t́m cách giúp đỡ, giải-quyết vấn-đề cho nhau chứ đừng ỷ-lại trông chờ mọi sự đến từ chính-phủ, từ một nguồn nào đó dù như dồi dào. Tóm lại, chúng ta ở hải-ngoại phải học cách chịu trách-nhiệm cho đời ḿnh chứ đừng ăn bám, ăn welfare mà làm cách mạng (làm kiểu này không thuyết phục được người khác v́ nó không thể xem là gương tốt được).

     Tất cả những điều trên đây không đ̣i hỏi chúng ta phải đoàn-ngũ-hoá tới mức lại chỉ c̣n một tổ-chức, một đảng chính-trị, v.v. Tinh-thần dân-chủ chính là tinh-thần tôn trọng sự đa dạng, đa nguyên, sự cạnh tranh lành mạnh để tất cả mọi người đều có cơ-hội thăng tiến trong nghề nghiệp, trong sứ-mạng ḿnh tự đặt ra cho ḿnh. 􀁹