Giới Thiệu Trung Quốc

 

Phùng Nguyên

 

I. Lời nói đầu

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ muốn giới thiệu một vài nét chính của Trung Quốc về nền văn minh, đất nước & con người, tiến tŕnh phát triển kinh tế và tổ chức Nhà nước. Lư do là Trung Quốc là một nước chắc chắn sẽ được thế giới chú ư và đặc biệt quan tâm đến do bối cảnh địa dư chính trị và sự tăng trưởng cao về kinh tế (b́nh quân 9,4%/năm từ 1978 đến 2004). Từ một nước lạc hậu do hệ quả của kinh tế chỉ huy, Trung Quốc trở thành một nước đáng kể trên chính trường thế giới nhờ chuyển sang "kinh tế thị trường mang đặc sắc Trung Quốc" từ 1978 trở đi. Trong thời gian tương đối ngắn nói trên, Trung Quốc đă đi một con đường khá dài trên phương diện kinh tế. Cho đến cuối năm 2004, Trung Quốc là nước đứng hàng thứ tư về Tổng sản lượng quốc nội, thứ ba về ngoại thương và chiếm nhiều kỷ lục thế giới trên một số lĩnh vực. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn c̣n là một xứ rất "lùn" trên phương diện chính trị.

Chúng ta hăy tuần tự khảo sát các chương mục nói trên.

II. Một nền văn minh lâu đời hơn 4000 năm qua các triều đại

Như chúng ta thấy qua bản các triều đại dưới đây, Trung Quốc có một nền văn minh lâu đời hơn 4000 năm. Nếu hai vua Nghiêu Thuấn là hậu duệ của hoàng đế "Hoàng" thuộc về huyền thoại và truyền thuyết th́ các nhà khảo cổ Trung Quốc đă t́m thấy trong những năm 1954-1957 ở Bán Pha (Banpo) thuộc tỉnh Thiểm Tây những dữ liệu chính xác về cách tổ chức một làng xă thời nguyên thuỷ thuộc thời kỳ đồ đá mới Ngưỡng Thiều (Yangshao, 5000-3000 TCN). Tiếp theo đó là các thời kỳ văn hoá Đại Văn Khẩu (Dawenkou, 4500-2500), Hồng Sơn (Hongshan, 3800-2700), Mă Gia Dao (Majiayao, 3500-1500), Lương Chữ (Liangzhu, 3000-2000), Long Sơn (Longshan, 2500-1700).

Xin xem: La redécouverte de la Chine ancienne của Corinne DEBAINE-FRANCFORT, NXB Gallimard, Paris, 1998.

Sang thời kỳ các triều đại Hạ, Thương, Châu, bắt đầu là thời đại về đồng (âge de bronze).

 

Những Triều đại

Nguồn tin: Xinhuanet và Précis d'histoire de Chine, sous la direction de Bai Shouyi (Bạch Thọ Di), NXB Bắc Kinh năm 1988.

 

Chú Thích

Theo bản các triều đại trên, Trung Quốc có một nền văn minh hơn 4 ngàn năm trong đó có 7 triều đại trên dưới 200 năm là: Bắc Nam Tống (319), Thanh (295), Đường (289), Minh (276), Tây Hán (231), Liêu (218), Đông Hán (195).

Trong các triều đại, người ta để ư có 4 triều đại (Liêu, Kim, Nguyên và Thanh) do sắc tộc thiểu số trị v́ đến 723 năm. Đây là một đặc tính "yếu kém" của nền văn minh Trung Quốc.

Ngoài ra, Trung Quốc trước Công Nguyên sinh sản ra nhiều nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử (551-479), Mặc Tử (468-376), Mạnh Tử (372-289), Trang Tử (369-286), Tuân Tử (298-238), Hàn Phi (280-233) v.v.. cũng như những thiên tài quân sự thời Chiến Quốc như Tôn Tử, Tôn Tẫn, Ngô Khởi vv... Cũng không nên quên Trung Quốc là nơi phát minh về giấy do Thái Luân (Cai Lun, đầu thế kỷ thời Đông Hán), về kỹ thuật in chữ do Tất Thăng (Bi Sheng, 1012-1068), về địa bàn và thuốc súng.

III. Đất nước và con người

Trung Quốc có một diện tích 9,6 triệu cây số vuông.Từ Đông sang Tây có một chiều dài 5000 cây số. Biên giới Trung quốc có chiều dài hơn 20.000 cây số giáp với 15 nước sau: Bắc Triều Tiên, Mông Cổ, Nga, Kazakhstan, Kirghizstan, Tadjikistan, A Phú Hăn, Pakistan, Ấn Độ, Sikkim, Boutan, Nepal, Myanmar (Miến Điện), Lào và Việt Nam.

Về địa lư, Trung Quốc có một địa thế không cân xứng. Bốn tỉnh phía Tây (Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông và Thanh Hải) chiếm gần 47% diện tích nhưng dân số không đến 4% của nước. Những tỉnh này do các dân tộc thiểu số sống lâu đời như người Hồi Uygur, người Tây Tạng và người Mông Cổ. Đất đai phần lớn là núi non nhưng cũng có nhiều khoáng sản chưa khai thác. Trong khi đó, tám thành phố (Hà Nam, Sơn Đông,Tứ Xuyên, Quảng Đông, Giang Tô, Hà Bắc, Hồ Nam, An Huy) có trên 60 triệu dân và chiếm phân nửa dân số toàn xứ nhưng chỉ chiếm 16,6% diện tích. Tỉnh Hà Nam có đông dân nhất với gần 97 triệu dân.

Núi

Trung Quốc là một nước có nhiều núi non, mật độ trên 1000 thước và 3000 thước chiếm 58% và 25% diện tích. Núi non chiếm 69% diện tích của toàn xứ.

Từ Tây sang Đông có những dăy núi sau có mật độ cao trung b́nh trên 4000 thước: Altai, Thiên Sơn (Tianshan), Côn Luân (Kunlun), Kỳ Liên (Qilian), Karakorum, Gandisê, Hy Mă Lạp Sơn, Âm Sơn (Yinshan), Tần Linh (Qinling), Nam Linh (Nanling). Núi Qomolangma thuộc Hy Mă Lạp Sơn nằm ở biên giới Trung Quốc và Nepal cao nhất thế giới với 8848 thước.

     Từ Bắc xuống Nam là dăy núi Hoành Đoạn (Hengduan) hợp thành những núi Đại Tuyết (Daxue), Nộ Sơn (Nushan) và Cao Lê Cống (Gao Ligong) gần biên giới với Myanmar.

Phía Đông là dăy núi Trường Bạch (Changbai) và các núi ở Liêu Đông, Sơn Đông, Phúc Kiến và Chiết Giang.

Phía Tây là dăy núi lớn Hinggan, các núi Thái Hàng (Taihang), núi Vu Sơn (Wushan), núi Vũ Lăng (Wuling), núi Tuyết Phong (Xuefeng).

Khi nói về núi, phải nói tới 9 núi nổi tiếng trong đó có 4 núi "Phật" và 5 núi "thiêng liêng". Bốn núi "Phật" là Phổ Đà sơn (Pu Tuoshan) tỉnh Chiết giang, Ngũ Đài sơn (Wu Taishan) tỉnh Sơn Tây, Nga My sơn (E Meishan) tỉnh Tứ Xuyên và Cửu Hoa sơn (Jiu Huashan) tỉnh An Huy. Năm núi "thiêng liêng" là Thái sơn (Taishan), tỉnh Sơn Đông, Hằng sơn (Hengshan) tỉnh Sơn Tây, Hoàng sơn (Huangshan), tỉnh An Huy, Vũ Đang sơn (Wu Dangshan), tỉnh Hồ Bắc và Hoa sơn (Huashan) tỉnh Thiểm Tây.

Sông và nước

Hai sông dài nhất là Trường Giang (6300 cây số) và Hoàng Hà (5464 cây số). Ngoài ra c̣n có những sông dài khác là sông Hắc Long dài 2965 cây số, Sông Tarim dài 2179 cây số, sông Chu dài 2129 cây số và sông Tùng Hoa dài 1840 cây số.

Sông Trường Giang mà phương Tây thường gọi là Yangtsé chảy qua các tỉnh Tây Tạng, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, An Huy, Giang Tô và Thượng Hải. Sông Hoàng Hà chảy quanh co đi qua các tỉnh Thanh Hải, Tứ Xuyên, Cam Túc, Ninh Hạ, Nội Mông, Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà Nam và Sơn Đông.

Sông Chu đi qua các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quí Châu và Vân Nam. Hai sông Hắc Long và Tùng Hoa chảy qua các tỉnh Đông Bắc.

Nước là một vấn đề lớn của Trung Quốc. Lư do là lưu lượng sông ng̣i của Trung Quốc có 2700 tỷ mét khối nhưng sự phân chia không đồng đều từ Nam đến Bắc. Phía Nam sông Trường Giang lưu lượng chiếm 80% nhưng chỉ có 40% đất đai trồng trọt. Phía Bắc sông Trường Giang cũng có 40% đất đai trồng trọt nhưng chỉ có 6,5% lưu lượng nước do sông Hoàng Hà và hai sông nhỏ Hoài Hà và Hải Hà cung cấp. Kết quả là miền Nam thường bị bị lụt lớn trong khi miền Bắc phía trên sông Trường Giang bị hạn hán triền miên.

V́ lư do đó mà Nhà nước Trung Quốc cho xây dựng một một công tŕnh thuỷ lợi vô tiền khoáng hậu bằng cách đảo ngược nước từ Nam lên Bắc. Con kênh Đại Vận Hà dài 1782 cây số đi từ Hàng Châu về Bắc Kinh đào từ nhà Tuỳ đến nhà Nguyên sẽ được mở rộng. Một con kênh khác dài 1300 cây số đang đào từ đập nước Đơn Giang Khẩu (Danjiangkou) thuộc tỉnh Hồ Bắc xuyên qua hai tỉnh Hồ Nam và Hà Bắc về Bắc Kinh. Công tŕnh dự trù sẽ tốn 15 tỷ USD và có thể dẫn 13,4 tỷ mét khối nước. Đoạn đầu đă khởi công từ năm 2002 và sẽ đem nước cho tỉnh Sơn Đông vào năm 2007 và cuối cùng về Bắc Kinh vào năm 2010 (Nhân Dân điện tử 25-11-2004). Trước đó, họ cho xây dựng nhiều tháp đập lớn trong đó có đập Tam Hiệp (Sanxia), một tháp đập khổng lồ nhất của thế giới với kinh phí trên dưới 100 tỷ USD. Đập này có tác dụng vừa dẫn nước về phía Bắc vừa cung cấp 10% điện lực cho cả nước. Hồ chứa của đập có diện tích 54000 cây số vuông và mực nước sẽ được nâng lên cao đến 175 thước vào năm 2009. Giai đoạn đầu đưa mực nước lên 135 thước đă hoàn thành.

Khỏi nói là hậu quả về môi sinh sẽ rất kinh khủng và các di tích lịch sử sẽ bị tàn phá hoặc bị thiêu huỷ chưa nói đến cả trăm thành phố và hơn một triệu dân phải di chuyển. Chẳng hạn như thành phố Phong Đô (Fengdu), c̣n được gọi là "địa ngục" v́ có nhiều miếu cổ và h́nh tượng ma quỉ. Thạch Bảo Trại (Shibaozhai) là một khối đá cao 30 thước trên đó có một chùa gỗ cao 11 thước xây từ đời vua Càn Long (1736-1797). Miếu Hoàng Lăng (Huangling) theo truyền thuyết do Khổng Minh Gia Cát Lượng (181-234) xây cất để tưởng niệm Vũ Vương có công chế ngự sông Trường Giang. Miếu Trương Phi, Bạch Đế thành (Baidicheng), vách đá Xích Bích (Chibi) v.v.. những nơi di tích lịch sử thời Tam Quốc. Bạch Đế thành là nơi Lưu Bị kư thác các con ḿnh cho Khổng Minh, Xích Bích là nơi thuỷ chiến xảy ra năm 208 giữa liên minh Thục-Ngô với quân Tào. Ai đă có dịp đi đến những nơi này mới thấy cái vô lư của sự tàn phá này.

     C̣n về nước uống, các chuyên gia trong ngày thế giới về nước họp ở Bắc Kinh ngày 23-3-05 cho biết vấn đề này ở Trung Quốc c̣n trầm trọng hơn nạn ngập lụt v́ 300 triệu nông dân xứ này c̣n uống nước dơ bẩn trong khi 70% sông và suối bị ô nhiễm và các nguồn nước đang cạn kiệt dần. Ông Hồ Cẩm Đào bắt buộc lên tiếng kêu gọi chính quyền địa phương phải đặt ưu tiên về nước uống (Nhân dân điện tử 24-3-2005).

Hồ:

Hai hồ lớn nhất là hồ Thanh Hải (4400 cây số vuông) thuộc tỉnh Thanh Hải và hồ Phồn Dương (Poyang, 3976 cây số vuông) thuộc tỉnh Giang Tây. Ngoài ra cũng c̣n có nhiều hồ khác nổi tiếng như hồ Động Đ́nh (Dongting, 3915 cây số vuông) thuộc tỉnh Hồ Nam, hồ Lop Nor (2500 cây số vuông) thuộc Tân Cương, hai hồ Hồng Trạch (Hongze, 3780 cây số vuông) và Thái Hồ (Taihu, 2200 cây số vuông) thuộc tỉnh Giang Tô.

Khe lũng (Gorge):

Khe lũng Yarlung Yangbo ở Tây Tạng dài 504,6 cây số và sâu 6009 thước.

Dân số:

Dân số của Trung Quốc hiện nay lên đến ngoài 1,3 tỷ người chiếm 20% nhân măn thế giới nhưng Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 4-5% tổng sản lượng (GDP) thế giới.

Trung Quốc có 56 sắc tộc trong đó 55 sắc tộc thiểu số chiếm 8,4% dân số với104,5 triệu dân.

Tổ chức hành chính:

Về tổ chức hành chính, Trung Quốc có 4 thành phố trực thuộc Trung ương, 22 tỉnh, 5 vùng tự trị và 2 đặc khu.

 

(1) Thu nhập đầu người của 2 đặc khu này trên 15000USD.

(2) Vừa được "thăng nhiệm" phó chủ tịch Chính Trị Hiệp Thương của Bắc Kinh, thực tế là bị Bắc Kinh cách chức trước kỳ hạn.

Chú thích: Trong ngoặc kép thu nhập đầu người bằng 1000 Nhân dân tệ/năm (2001).

Nguồn tin: Xinhuanet

 

B́nh luận:

Tỉnh giàu nhất là Thượng Hải với thu nhập đầu người 38.000 Nhân dân tệ/năm (4600 USD) trước Bắc Kinh (2467 USD) trong khi tỉnh nghèo nhất là Quí Châu với 2.900 Nhân dân tệ (350 USD). Sự chênh lệch giữa 2 tỉnh giàu và nghèo lên đến 13 lần. Ngoài ra, những tỉnh duyên hải như Liêu Ninh, Bắc Kinh, Thiên Tân, Sơn Đông, Giang Tô, Thượng Hải, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông đều có thu nhập trên 10.000 Nhân dân tệ (1200 USD) trong khi 3 tỉnh Cam Túc, Quí Châu và Tây Tạng có thu nhập dưới 5.000 Nhân dân tệ (600 USD).

Về sự chênh lệch thu nhập giữa người thành thị và nông thôn, chúng ta có bản số dưới đây:

Trong khoảng thời gian 18 năm, thu nhập người thành thị tăng gần 2 lần nhanh hơn thu nhập người nông thôn, sự chênh lệch theo đó càng nới rộng.

Theo nhật báo Le Monde ngày 4-1-2005, Trung Quốc có 3 người tỷ phú USD không kể ông Lư Gia Thành (Li Ka-shing) gốc Hương Cảng, c̣n báo Nhân Dân Bắc Kinh cho biết Trung Quốc trong năm 2003 có 236.000 người triệu phú USD không kể tài sản về cục ốc.

IV. Kinh tế

IV.I Tổng sản lượng quốc nội (PIB)

Dưới đây là bản số tiến tŕnh của Tổng sản lượng của Trung Quốc từ 1952.

Nguồn tin: Xinhuanet từ 1952 đến 2003.

(1) Theo Báo Nhân Dân điện tử ngày 15-3-2005. Như vậy số tăng trưởng PIB của Trung Quốc trong năm 2004 là 11,7% (?) chứ không phải 9,5% như họ đă loan tin.

Chú thích: 8,27 Nhân dân tệ=1 USD

 

B́nh luận:

Ở đây, chúng ta hăy làm so sánh tổng sản lượng quốc nội và thu nhập đầu người trong hai thời kỳ 26 năm.

1- Từ 1952 đền 1978 (26 năm), thời kỳ Trung Quốc theo kinh tế chỉ huy.

-Tổng sản lượng quốc nội: Tăng 5,3 lần

-Thu nhập đầu người: Tăng 3 lần

2- Từ 1978 đến 2004 (26 năm), thời kỳ mở rộng kinh tế

-Tổng sản lượng quốc nội: Tăng 37,7 lần (13650 tỷ thay v́ 362,4 tỷ)

-Thu nhập đầu người: Tăng 27,7 lần (1270 USD thay v́ 45,8 USD)

So sánh trong hai thời kỳ, chúng ta thấy trong thời kỳ hai, tăng trưởng kinh tế leo thang. Lư do là năm 1978 ông Đặng Tiểu B́nh cho chủ trương mở rộng kinh tế đi theo kinh tế thị trường. Cũng trong thời kỳ hai, dịch vụ chiếm gần 1/3 tổng sản lượng quốc nội trong khi tỷ trọng của khu vực thứ nhất giảm đi gần một nửa (từ 28% xuống 14,6%) và tỷ trọng của khu vực thứ hai tăng thêm 4 điểm (từ 48,2% lên 52,3%). Đây là hiện tượng của một nước đang đi vào kỹ nghệ hoá. Điều này chứng minh rơ ràng là kinh tế thị trường ít ra cũng 10 lần hơn kinh tế chỉ huy.

IV.II Quan hệ kinh kế và thương mại

Từ 1998 đến 2004, ngoại thương Trung Quốc tăng ba lần trong khi từ năm 1990 đến 1998 chỉ tăng 2 lần (tăng 56 lần từ 1978 đến 2004). Trung Quốc trở thành cường quốc thứ 3 trên thế giới sau Hoa Kỳ và Đức trong năm 2004. Trong năm 2003, Trung Quốc đứng đầu về đầu tư vốn nước ngoài trước Hoa Kỳ (sau Hoa Kỳ năm 2004).

Nguồn tin: Xinhuanet: Xem ở mục sự kiện và số năm 2004

1.150 tỷ USD năm 2004, theo báo Nhân Dân điện tử ngày 15-3-2005.

60,6 tỷ USD năm 2004, theo báo Nhân Dân điện tử ngày 15-3-2005

 

V. Những kỷ lục thế giới

Trung Quốc là nước chiếm nhiểu kỷ lục trên thế giới qua các công tŕnh xây dựng, mức tiêu thụ và sản xuất v.v.. Trong năm 2004, Trung Quốc vượt Mỹ trên một số sản phẩm sản xuất công nghiệp và mức tiêu thụ.

Người ta c̣n nhớ cách đây đúng 2 năm (tháng 3-2003), chính quyền Bắc Kinh cho xây cất một bệnh viện có đủ trang bị để đưa bệnh nhân có bịnh hô hấp cấp tính (SARS) trong thời gian kỷ lục hai… ngày!

Cách đây 10 năm, du khách viếng thăm xứ này c̣n thấy những con đường liên tỉnh chật hẹp có nơi chưa tráng nhựa như "đường ṃn Hồ Chí Minh". Ngày nay, xa lộ có khắp nơi. Mỗi năm có thêm 5000 cây số xa lộ mới. Trong 2 năm 2003-2004, đường lộ tráng nhựa được xây cất lên đến 192000 cây số vượt hơn 170000 cây số của các đường lộ xây cất từ 1949-2002! (Nhân Dân điện tử 18-1-2005). Đường ống dẫn khí đốt (gazoduc) đi từ Tân Cương về Thượng Hải dài 4000 cây số được xây cất trong thời gian kỷ lục: 2 năm rưỡi.(NDĐT 23-11-2004).

Chúng tôi thu thập một số tư liệu về các kỷ lục của Trung Quốc trên tấm bản dưới đây.

 

 

 

 

Nguồn tin: Tạp chí Express (Pháp) ra ngày 6-12-2004, số liệu năm 2003.

(1) Nhân Dân điện tử Bắc Kinh 11-3-2005, số liệu 2003, (2) Xinhuanet: Xem ở mục sự kiện và số (số liệu cho năm 2003), (3) NDĐT 1-3-2005, (4) NDĐT 17-1-2005 cho 11 tháng 2004, (5) NDĐT 16-1-2005), (6) NDĐT 17-3-2005, (7) NDĐT 26-1-2005, (8) NDĐT 21-1-2005, ( 9) Nhân Dân Hà Nội 17-2-2005.

Chú thích: Nguyên liệu về dầu, sắt, thép, của Trung Quốc c̣n rất kém trong khi 2/3 của 8000 hầm mỏ lớn th́ sắp cạn (Nhân Dân điện tử ngày 9-3-2005). Tiêu dùng điện lực của Trung Quốc trong năm 2003 c̣n tuỳ thuộc ở than (67%), dầu (23%), điện thuỷ lợi và khí đốt (10%). V́ vậy, Trung Quốc tuỳ thuộc môt phần lớn nguồn năng lượng vào nước ngoài. Ông Hồ Cẩm Đào trong cuối năm 2004 công du trong 5 xứ và kư 39 hiệp định thương mại chủ yếu là dầu hoả. Những vụ tranh chấp ở biển Đông nằm trong chiến lược của Trung Quốc t́m thêm nguồn nguyên liệu dầu hoả.


 

VI. Tổ chức Nhà nước

 

- Ban Chấp hành ĐCSTQ

Như chúng ta đều biết, Trung Quốc là một nước cộng sản theo chế độ XHCN do đảng cộng sản lănh đạo. Đảng và Nhà nước là một. Đảng này có 66,4 triệu thành viên chiếm 5% dân số.

Ở Đại hội lần thứ XVI trong cuối năm 2002, Đảng này bầu ra một Ban Chấp hành Trung ương đảng gồm có 198 uỷ viên chính thức và 158 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành bầu ra một Bộ chính trị gồm 24 uỷ viên chính thức và 1 uỷ viên dự khuyết. Thường vụ Bô chính trị là cơ quan quyền lực cao nhất gồm có 9 người (Xem h́nh dưới đây).

Theo sự "phân công" của Đảng, ông Hồ Cẩm Đào kiêm nhiệm 3 chức vụ cao nhất của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Tiếp theo là Ngô Bang Quốc, chủ tịch Quốc Hội, Ôn Gia Bảo, thủ tướng, Giả Khánh Lâm, chủ tịch Chính trị Hiệp thương, Tăng Khánh Hồng, phó chủ tịch Nước kiêm trưởng ban Ban bí thư, Hoàng Cúc, phó thủ tướng thứ nhất, Ngô Quan Chính, Bí thư Uỷ ban kiểm sát kỷ luật TƯ, Lư Trường Xuân (không có chức vụ chính thức), La Cán, Bí thư Uỷ ban Chính trị Pháp luật.

Hội đồng quân sự TƯ

Hội đồng này có một chủ tịch (Hồ Cẩm Đào), ba phó chủ tịch và 7 thành viên tướng lănh.

Uỷ Ban Kiểm sát kỷ luật TƯ

Uỷ Ban này gồm có 121 thành viên trong đó có một Bí thư trưởng (Ngô Quan Chính), 7 phó Bí thư và 18 thành viên thường trực.

Quốc Vụ viện:

Quốc vụ viện là chính phủ gồm có một thủ tướng (ông Ôn Gia Bảo), 4 phó thủ tướng, 5 uỷ viên Quốc Vụ viện và 28 bộ trưởng hoặc chủ nhiệm các Uỷ ban.

Quốc Hội

Theo Hiến pháp Trung Quốc, chế độ đại hội đại biểu nhân dân là h́nh thức tổ chức của chính quyền "chuyên chính dân chủ" nhân dân Trung Quốc. Quốc Hội Trung Quốc có khoảng 3000 "đại biểu". Cơ quan thường trực Quốc Hội gồm có 159 người trong đó có chủ tịch Quốc Hội (ông Ngô Bang Quốc) và 15 phó chủ tịch.

Hội nghị Chính trị Hiệp thương

Cơ quan này là Mặt Trận Thống nhất gồm có 2238 thành viên được "tuyển chọn" trong đó có 299 thành viên thường trực đứng đầu có một chủ tịch (ông Giả Khánh Lâm) và 24 phó chủ tịch (vừa bổ sung thêm 3 thành viên trong đó có ông Đổng Kiến Hoa, nguyên Trưởng quan Đặc khu Hương Cảng). Thành viên bao gồm các thành phần trong xă hội kể cả các quan chức cao cấp cộng sản bị "thất sủng" hay các tài tử màn ảnh như nữ minh tinh điện ảnh Củng Lợi (Gong Li).

Đối lập "dân chủ"

Trên nguyên tắc, không thể có đối lập trong chế độ cộng sản. Những người chủ trương đối lập chính thống đều phải đi tù hoặc bị trục xuất ra ngoài nước. Nhưng để cho có vẻ "dân chủ", chế độ cho 8 đảng hoặc tập đoàn dân chủ "dởm" hoạt động. Người ta chú ư số thành viên của 8 đảng này không đến 350.000 người và các chủ tịch các đảng này là phó chủ tịch Quốc Hội hay phó chủ tịch Chính trị Hiệp thương.

Chú thích

- Bà Hà Lỗ Lệ và các ông Đinh Thạch Tôn, Thành Tư Nguy, Hứa Gia Lộ, Tưởng Chính Hoa và Hàn Khởi Đức, là phó chủ tịch Quốc Hội.

- Hai ông La Hào Tài, Trương Khắc Huy, là phó chủ tịch Hội nghị Chính trị Hiệp thương.

Ngoài ra, ông Châu Thiết Nông, phó chủ tịch của Uỷ ban cách mạng QDĐ Trung Quốc và ông Lư Mông, phó chủ tịch Đảng Dân Chủ Công Nông Trung Quốc cũng là phó chủ tịch Chính trị Hiệp thương.

VII. Thay lời kết

Qua các bản số trên, Trung Quốc có một nền văn minh lâu đời, đất nước bao la nhưng đại bộ phận là núi non và sông ng̣i, có nhiều thắng cảnh hùng vĩ với những con người có thể thực hiện được những công tŕnh khổng lồ kể cả việc đưa người lên không gian vv..

Về phương diện kinh tế, chúng ta có thể nói Trung Quốc đă đi một đoạn đường khá dài về phát triển kinh tế từ khi ông Đặng Tiểu B́nh cho mở cửa khai phóng. Vị thế của Trung Quốc trên chính trường thế giới theo đó cũng được nâng cao. Nhưng bên cạnh đó, phát triển kinh tế nhanh cũng đem lại nhiều vấn đề lớn khác phải giải quyết như sự cách biệt mỗi ngày càng sâu rộng giữa nông thôn và thành thị, giữa các tỉnh duyên hải và trong nội địa, vấn đề tuỳ thuộc nguồn năng lượng cho phát triển, vấn đề môi trường, vấn đề nước uống và vô số vấn đề xă hội khác như nạn tham nhũng, nạn thất nghiệp, số dân công về thành phố (200 triệu), số người cao niên (131 triệu), số người bị nhiễm bệnh HIV (trên nhiều triệu), các vụ bạo động ở nông thôn (hơn 50000 vụ trong năm 2004), các vụ xô xát giữa người Hán và sắc tộc thiểu số, môn phái Pháp Luân Công, v.v..

Về phương diện chính trị, Trung Quốc vẫn c̣n là một nước rất "lùn" so với bè bạn năm châu. Trong nước không có đối lập dân chủ, không có tự do báo chí, không có nghiệp đoàn, không có tự do tín ngưỡng, không có xă hội dân sự, v.v... Đây là một thử thách lớn của nước này trước xu hướng dân chủ hoá đang tiến hành khắp nơi và gần đây ở các nước Trung Đông và Trung Á. Ông Hồ Cẩm Đào có phải là nhân vật có khả năng đưa Trung Quốc đến dân chủ không? Chúng ta có quyền nghi ngờ v́ trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quốc Hội Trung Quốc ngày 15-9-2004, ông Hồ đă tuyên bố không úp mở rằng:

"Lịch sử chứng minh rằng việc sao chép không phân biệt các mô h́nh hệ thống chính trị Tây phương là ngơ cụt cho Trung Quốc" (Xinhuanet ngày 15-9-2004). ·