Hồi Ức Và Suy Nghĩ

Trần Quang Cơ

LTS Tạp Chí Cách Mạng: Chúng tôi xin giới thiệu đến quư bạn đọc bài viết "Hồi Ức Và Suy Nghĩ" của ông Trần Quang Cơ, cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao của Nhà Nước CSVN. Bài viết dài khoảng 100 trang, cho thấy Đảng CSVN đă bỏ lỡ nhiều cơ hội để đưa đất nước đi lên, cùng với những yếu kém và thái độ nhu nhược của Đảng CSVN trước thái độ bành trướng bá quyền của Trung Cộng, chỉ để được "b́nh thường hóa ngoại giao" với Trung Cộng, mà mục đích là để tiếp tục con đường Xă Hội Chủ Nghĩa, tiếp tục nghĩa vụ quốc tế! Điều kinh hăi là chính họ  khẳng định điều này trong buổi họp của Bộ Chính Trị như lời ông Trần Quang Cơ kể:  "Anh Vơ Chí Công nói: "Trung Quốc lấy lợi ích dân tộc của họ là chính, không phải theo lợi ích chung của CNXH. Họ khác ta. Dù ta có muốn hợp tác họ cũng không chịu đâu. Không nên ảo tưởng"." Hóa ra tất cả mọi người, mọi quốc gia trên thế giới, kể cả Trung Cộng, đặt quyền lợi dân tộc của họ là trên hết, duy chỉ có Đảng CSVN là không đặt quyền lợi dân tộc làm hàng đầu, có nghĩa sẵn sàng hy sinh toàn dân VN để thực hiện cái Chủ Nghĩa Xă Hội mà chính họ cũng biết đang rẫy chết!! Bài viết cũng cho biết từ khi Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Hồng Hà v.v... lên nắm quyền, cũng chính là thời điểm Việt Nam khởi đầu thần phục Trung Cộng, cho nên không lạ ǵ khi Việt Nam chịu cắt đất dâng biển cho Trung Cộng. Tác giả là một cán bộ CS cao cấp, từng đàm phán và thương thuyết nhiều vấn đề trọng đại liên quan đến vận mạng quốc gia, có tiếng trên trường quốc tế, và từ chối chức Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, thay thế Nguyễn Cơ Thạch, khi Đỗ Mười lên nắm quyền, v́ thế không thể nói lời thuật lại v́ định kiến ác cảm do khác ư thức hệ như của những người Quốc Gia.

 


Tiếp Theo Kỳ Trước ...

      Ngày 5.10.89, trong khi đă trả lời phỏng vấn báo chí, tôi đă nói về nguyên nhân khiến hội nghị quốc tế Paris chưa thành công:

     "Ngay từ những ngày đầu, dư luận trong và ngoài Hội nghị đều đă thấy vật cản chính và duy nhất cho khả năng tiến triển cuả Hội nghị là nhóm đại diện của Polpot được sự khuyến khích và phụ hoạ chủ yếu của một số nước v́ lợi ích riêng tư của họ. Càng về cuối Hội nghị, điều này càng thành sự thực hiển nhiên.

     Để lấp liếm trách nhiệm, họ đă vu khống Việt Nam và Nhà nước Campuchia quá cứng rắn khiến Hội nghị bế tắc.

     Làm sao chúng ta có thể đi đến thoả thuận được trong khi đối phương ngoan cố tới mức tự mâu thuẫn một cách trắng trợn trong lập trường cũng như các lập luận của họ? Họ nói tôn trọng nguyên tắc chủ quyền của nhân dân Campuchia nhưng họ lại đ̣i phải để các nước ngoài tham gia giải quyết các vấn đề nội bộ Campuchia, lại áp đặt cho nhân dân Campuchia phải chấp nhận một chính phủ theo h́nh thức họ định ra trước; họ nói họ vô cùng phản đối tội ác giết người của bọn Polpot nhưng họ lại đ̣i hợp pháp hoá tổ chức diệt chủng và đ̣i cho chúng được chia quyền cai trị đất nước Campuchia.

     Cộng đồng quốc tế có trách nhiệm loại trừ hiểm hoạ diệt chủng này. Đặc biệt là những nước xưa nay lớn tiếng doạ Việt Nam rút quân trong khi đó lại lẩn tránh lên án diệt chủng, th́ nay đến lượt họ phải có trách nhiệm ngăn diệt chủng gây nội chiến ở Campuchia.

     Về triển vọng quan hệ giữa các nước khu vực với đà tiến triển của vấn đề Campuchia c̣n tuỳ thuộc các nhân tố chủ quan cũng như khách quan, trong đó có khả năng của ta chuyển hoá các nhân tố khách quan có lợi hơn cho việc thực hiện mục tiêu của ta. Chẳng hạn như khả năng thực hiện phương châm "thêm bạn bớt thù" trong đối ngoại đ̣i hỏi có được một ư niệm rộng răi hơn về bạn. Tất nhiên mở rộng việc kết bạn không có nghĩa là thủ tiêu đấu tranh và phải trên cơ sở bảo vệ tốt lợi ích an ninh quốc gia của ta".

      Cũng nên biết đối với vấn đề diệt chủng ở Campuchia, Liên Xô v́ lợi ích chiến lược của ḿnh, nên chủ trương hầu như không khác ǵ Trung Quốc. Trong cuộc gặp anh Nguyễn Văn Linh ở Hà Nội tối 5.9.89, Heng Somrin cho biết anh vừa đi nghỉ ở Liên Xô về và kể rằng:

      "Trước khi đi, tôi nêu yêu cầu được gặp Gorbachov để thông báo t́nh h́nh Campuchia và trao đổi một số vấn đề, Liên Xô đồng ư. Nhưng khi đến Liên Xô, đồng chí Gorbachov không gặp tôi mà để đồng chí uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, phó chủ tịch Xô Viết tối cao gặp. Tôi hiểu rằng v́ hội nghị quốc tế ở Paris chưa có kết quả ǵ nên Gorbachov không gặp tôi. Trong khi gặp tôi, phía Liên Xô nói thẳng là chúng tôi phải chấp nhận lập chính phủ liên hiệp 4 bên, cho cả Khmer Đỏ vào và để Sihanouk làm chủ tịch. Chính phủ đó và Sihanouk có thực quyền. Liên Xô giải thích là trong Khmer Đỏ chỉ có Polpot và vài người theo Polpot là xấu thôi, c̣n lại th́ PhnomPenh nên chấp nhận cho họ tham gia chính phủ. Lập trường này của Liên Xô, chúng tôi không đồng ư".

      Vậy là đến lúc này cả Liên Xô lẫn Trung Quốc v́ lợi ích của ḿnh cùng nhất trí trong hành động dùng sức ép nước lớn can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm chủ quyền của Campuchia.

      Đặng Tiểu B́nh tiếp Kaysone Phomvihan để nói với Việt Nam

      Những biến động lớn trong t́nh h́nh thế giới bên ngoài lúc này đă tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ của lănh đạo ta về phương hướng chiến lược đối ngoại. Cuộc khủng hoảng chính trị tại nhiều nước theo chế độ XHCN đă bùng nổ từ năm 1989 và đang có chiều hướng lan rộng ra. Tháng 6.89 xảy ra vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, Hung, Tiệp, ... đều đă sụp đổ. Đầu tháng 10.89, TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội th́ bức tường Berlin đổ, Honecker bị lật. Lănh tụ Rumani Ceaucescu, người mà khi ở Berlin anh Linh xem ra tâm đầu ư hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cữu văn sự nghiệp XHCN thế giới đang lâm nguy, vừa chân ướt chân ráo về đến Bucarest th́ bị truy bắt. Với "tư duy mới" của Gorbachov, t́nh h́nh Liên Xô ngày càng trở nên lộn xộn.

      Trước t́nh h́nh ấy, trong nội bộ lănh đạo ta đă nảy sinh những ư kiến khác biệt trong nhận định về sự kiện Thiên An Môn cũng như về những biến đổi dồn dập tại các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô. Nổi lên là ư kiến nhấn mạnh mặt XHCN của Trung Quốc, phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xă hội, để chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác. Chính điều đó đă tạo nên bước ngoặt khá đột ngột trong thái độ của ta đối với Trung Quốc. Suy nghĩ đơn giản của ta là không có lư ǵ Việt Nam lại ngủng ngỉnh với Trung Quốc trong khi Liên Xô đă b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc từ tháng 5.89. Lào cũng đă thoả thuận trao đổi đại sứ trở lại với Trung Quốc và b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước, đánh dấu bằng cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của Kayson Phomvihan, TBT Đảng NDCM Lào, tháng 10.89.

      Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7.10.89 ở Bắc Kinh mà Đặng Tiểu B́nh đă bộc lộ rơ phần nào những tính toán sâu xa của ḿnh đối với Việt Nam: phân hoá Việt - Lào, Việt - Campuchia, Việt - Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng: Việt Nam đă có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh c̣n sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam. Lúc đầu Trung Quốc cho là v́ Brejnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ư đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc v́ Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương... Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Đặng đă hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Đặng kể lại khi làm TBT Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 1963, đă tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, khen anh Linh là "người tốt, sáng suốt và có tài"; nhờ Kayson chuyển lời hỏi thăm anh Linh; khuyên Nguyễn Văn Linh nên giải quyết dứt khoát vấn đề Campuchia, nếu làm được việc này th́ sẽ khôi phục được uy tín của Việt Nam. Cho đây là việc Việt Nam phải làm, v́ những ǵ Việt Nam đang làm là sai lầm; mong muốn b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam trước khi ông ta nghỉ hưu... Về điều kiện b́nh thường hoá quan hệ Trung - Việt, Đặng nhấn mạnh Việt Nam phải rút hết quân, rút triệt để, rút thật sự khỏi Campuchia th́ sẽ có b́nh thường hoá quan hệ (tuy lúc đó ta đă kết thúc đợt rút quân cuối cùng khỏi Campuchia từ ngày 26.9.89).

      Theo thông báo của đại sứ Lào tại Trung Quốc, trong 70 phút nói chuyện với Kayson, Đặng nói về Việt Nam và quan hệ Trung - Việt tới 60 phút.

      Ngày 21.10.89 BCT ta đă họp để nhận định về phát biểu của Đặng Tiểu B́nh khi tiếp Kayson cuộc họp đă đi đến kết luận là: trong lúc Trung Quốc đang c̣n găng với ta, ta cần có thái độ kiên tŕ và thoả đáng, không cay cú, không chọc tức nhưng cũng không tỏ ra nhún quá. Cần tiếp tục thực hiện đường lối Đại hội VI và Nghị quyết 13 của BCT, cần thấy cả mặt XHCN và mặt bá quyền nước của Trung Quốc. Trong khi cố kéo Trung Quốc, ta cần đồng thời hoạt động trên nhiều hướng; củng cố kết chặt chẽ với Lào; phân hoá Mỹ, phương Tây, ASEAN với Trung Quốc.

      Theo phương hướng đó, ngày 6.11.89, anh Thạch đă chuyển qua đại sứ Trung Quốc thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu B́nh, ngỏ ư mong sớm có b́nh thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ba tuần sau, anh Thạch lại gửi thư cho Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp ngày 6/11 và đề nghị phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng ngoại giao tại Hà Nội hoặc Bắc Kinh trong tháng 12.89. Nhưng Trung Quốc không trả lời thông điệp của TBT ta lẫn thư của anh Thạch.

      Măi đến ngày 12.12.89, Đại sứ Trung Quốc mới gặp anh Thạch chuyển thông điệp miệng của Trung Quốc trả lời TBT Nguyễn Văn Linh, vẫn đặt điều kiện cho việc nối lại đàm phán với ta: "Đồng chí Đặng Tiểu B́nh và các lănh đạo khác của Trung Quốc chân thành mong muốn sớm b́nh thường hoá quan hệ Trung - Việt. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu làm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện. Việc khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa có thể cải thiện nếu bỏ qua vấn đề Campuchia. Đồng chí Đặng Tiểu B́nh có nêu ra là việc Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để và việc Campuchia lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía Trung Quốc sẵn sàng suy xét đề nghị của Việt Nam về việc mở ṿng thương lượng mới ở cấp thứ trưởng nếu Việt Nam chấp nhận một cơ chế giám sát quốc tế do LHQ chủ tŕ có 4 bên Campuchia tham gia để kiểm chứng việc rút quân Việt Nam và lập chính phủ 4 bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kỳ quá độ".

      Ngày 11.11.89, BCT họp bàn và thông qua đề án đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia. Trên cơ sở đánh giá t́nh h́nh quân sự, chính trị trên chiến trường và xu thế chung trên thế giới, ta chủ trương cần phấn đấu đạt một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. Để ra 4 phương án về cơ quan quyền lực ở Campuchia trước tổng tuyển cử. Phương án thấp nhất là giữ nguyên bộ máy của hai chính phủ đang tồn tại, lập chính phủ liên hiệp hai bên ở trung ương để tổ chức tổng tuyển cử và thực hiện những điều thoả thuận.

      Ngày 2.12.89, anh Thạch sang bàn với BCT Campuchia, phân tích chiến tranh ở Campuchia là một cuộc nội chiến, Việt Nam không thể đưa quân trở lại (4 ngày sau khi Việt Nam rút quân đợt cuối, lực lượng Son San đă đánh chiếm Thmar Ponk; ngày 22.10.89, Khmer Đỏ đánh chiếm Pailin và uy hiếp thị xă Battambang, theo yêu cầu của Bạn, ta phải đưa lực lượng đặc biệt lên giúp), nói kỹ về tính chất quốc tế của vấn đề Campuchia và xu thế trên thế giới. Bàn với Bạn cần đấu tranh để đạt một giải pháp chính trị để giành giật thắng lợi từng bước. BCT Bạn hoàn toàn nhất trí và thấy cần sử dụng vai tṛ LHQ như sáng kiến của Ngoại trưởng Úc G. Evans ngày 24.11.89.

      Cuộc họp BCT ta ngày 6.12.89 đă bàn về sáng kiến của Úc và nhất trí về việc sử dụng vai tṛ LHQ. Sau khi trao đổi, BCT Campuchia hoàn toàn đồng ư với ư kiến của BCT ta. Từ ngày 10 - 25.1.90, Bạn triệu tập Hội nghị TƯ 10 để bàn đi vào giải pháp chính trị. Ngày 18.1.90, quốc hội Campuchia đă thông qua việc để LHQ tổ chức tổng tuyển cử, uỷ quyền cho Hunxen đàm phán về vấn đề này.

Việc ta và Bạn Campuchia chấp nhận sử dụng vai tṛ LHQ và xem xét sáng kiến của Úc để giải quyết vấn đề phân chia quyền lực bị bế tắc ở Hội nghị quốc tế Paris đă thúc đẩy mạnh mẽ các diễn đàn bàn về vấn đề Campuchia: cuộc họp IMC ở Jakarta ngày 26.3.90, các cuộc họp P5, cuộc họp Hunxen - Sihanouk ṿng 6 ở Bangkok ngày 22.2.90

      Từ 26.2 đến 1.3.90 tại thủ đô Inđônêxia đă họp Hội nghị không chính thức về Campuchia (IMC). Dự họp ngoài các bên Campuchia, Việt Nam, Lào và 6 nước ASEAN (như họp JIM), c̣n có thêm đại diện Tổng Thư kư LHQ, Pháp và Úc. Hội nghị không ra được tuyên bố chung v́ Khmer Đỏ dùng quyền phủ quyết.

      Thất bại của Mặt trận Giải phóng Sandino trong cuộc tổng tuyển cử ở Nicaragua ngày 25.2.90 và thất bại của cuộc họp IMC về vấn đề Campuchia ở Jakarta ngày 28.2.90 đă tác động mạnh vào lănh đạo ta về phương hướng giải quyết vấn đề Campuchia.

      Ngày 8.3.90, cố vấn Lê Đức Thọ cho gọi tôi và anh Đinh Nho Liêm đến nhà riêng ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân nói mấy ư kiến về vấn đề Campuchia: Cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề Campuchia. Phải giải quyết với Trung Quốc, nếu không th́ không giải quyết được vấn đề Campuchia. Không thể gạt Khmer Đỏ. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, có thể nói "không để trở lại chính sách sai lầm trong quá khứ". Không chấp nhận LHQ tổ chức tổng tuyển cử. Cần nêu phương án lập chính phủ liên hiệp lâm thời hai bên bốn phái để tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề Campuchia trước Đại hội VII để khai thông những vấn đề khác.

      Hai hôm sau anh lại nói với Nguyễn Cơ Thạch những ư đó. Sự việc này khiến tôi suy nghĩ: tại sao lại thay đổi phương hướng đối sách trước khi đại hội Đảng họp? Tại sao lại chỉ nói với anh Thạch sau khi đă nói với chúng tôi?

      Từ ngày 8 - 20.3.90, Heng Somrin nghỉ ở Hà nội, có dịp gặp gỡ TBT Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Lê Đức Thọ, Cố vấn Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh trao đổi về t́nh h́nh Liên Xô Đông Âu, Nicaragua và tất nhiên về t́nh h́nh Campuchia. TBT Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói cần phải cảnh giác với LHQ, không thể để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Từ đấy Bạn Campuchia chuyển sang phương án SNC tổ chức tổng tuyển cử, không tán thành để LHQ tổ chức tổng tuyển cử nữa. Sau này, ngày 11.8.90, khi nhắc lại vấn đề này, Hunxen than phiền với anh Ngô Điền, Đại sứ ta ở PhnomPenh: "Khi anh Heng Somrin đi nghỉ ở Hà nội, đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh gặp anh Heng Somrin tỏ lo ngại về việc sử dụng vai tṛ LHQ. Anh Heng Somrin về nói lại cái này. Tôi có nói là giao cho LHQ có mặt phức tạp nhưng giao cho SNC phức tạp hơn v́ nó có hệ thống, người nhiều mà ta c̣n phải lo đối phó với cả LHQ nữa. Cái này làm tôi rất khó. Quyết định của hai đồng chí TBT làm tôi rất khó. Không nên để có ư kiến khác nhau giữa TBT và Thủ tướng. Tôi phải làm theo ư kiến nhất trí. Việc sử dụng vai tṛ LHQ hay SNC là bộ phận quan trọng của quyết định chiến lược có đi vào giải pháp chính trị hay không. Dùng SNC rất phức tạp. Campuchia không đủ người và khả năng tham gia các uỷ ban của SNC để đối phó với bọn kia." Hunxen c̣n cho biết ngày 20 - 21.5.90, khi 3 TBT Việt Nam, Lào, Campuchia gặp nhau tại Hà nội nhân dịp 100 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, bàn việc không để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia, TBT Đảng Lào Kayson băn khoăn điều này và nói: "Ta nhận rồi tA lại thôi. Ta trèo cao rồi, nếu tuột xuống dễ ngă đau".

      Đến ngày 3.4.90, Trung Quốc đột nhiên lại biểu thị hoan nghênh việc thứ trưởng Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh "kiểm tra sứ quán" và công bố tin Trung Quốc sẽ đàm phán với thứ trưởng ngoại giao Việt Nam về vấn đề Campuchia.

      Lúc này CP 87 đă giải thể. Các thành viên thường trực của CP 87 đều đă được bổ nhiệm đi nhận các trọng trách ở nước ngoài. Anh Đặng Nghiêm Hoành đă nhận quyết định đi Đại sứ ở Trung Quốc. Anh Trần Xuân Mận nhận chức Đại sứ ở Angiêri. Anh Nguyễn Phượng Vũ trên đường đi nhận chức Đại sứ ở Philipin, đă chết trong tai nạn máy bay trên bầu trời Thái Lan. Thay vào đó, Bộ Ngoại Giao đă lập Nhóm ad hoc về giải pháp Campuchia với nhiệm vụ cụ thể hơn v́ vấn đề Campuchia đă đến lúc giải quyết. Nhóm vẫn do tôi phụ trách, có các anh Trần Huy Chương, Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Nguyễn Can tham gia.

      Nhóm nghiên cứu giải pháp Campuchia chúng tôi nhận định có mấy lư do đă khiến Trung Quốc mềm mỏng hơn trong thái độ đối với Việt Nam về vấn đề Campuchia:

      * Quan hệ Mỹ - Xô đang có chuyển động mạnh. Chỉ trong ṿng 6 tháng, từ tháng 12.89 đến tháng 5.90, đă có 2 cuộc gặp cấp cao Xô - Mỹ. Trong khi đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây chậm khôi phục sau vụ Thiên An Môn.

      * Giữa Trung Quốc với Mỹ, ASEAN, phương Tây đang nảy sinh những mâu thuẫn mới về vấn đề Campuchia, chủ yếu trong vấn đề đối xử với Khmer Đỏ. Trong các cuộc họp 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An tháng 2 và tháng 3.90, Trung Quốc ở thế bị cô lập đă buộc phải có nhân nhượng và phải chấp nhận vai tṛ lớn của LHQ.

      * Đàm phán Sihanouk - Hunxen có tiến triển. Ngày 9.4.90 Sihanouk có phần nhượng bộ khi đưa ra 9 điểm giải pháp, nhận lập Hội đồng Dân tộc Tối cao (SNC) gồm số đại diện bằng nhau của hai chính phủ, 6 của Chính phủ PhnomPenh và 6 của "Chính phủ Campuchia Dân chủ" như Hunxen đề nghị; không đ̣i giải tán Nhà nước Campuchia (SOC), tuy đ̣i thực quyền cai quản Campuchia trong thời kỳ quá độ phải là cơ cấu quyền lực của LHQ.

      Ngày 10.4.90, BCT họp bàn phương hướng thúc đẩy giải pháp chính trị vấn đề Campuchia. Đề án đấu tranh sách lược về vấn đề Campuchia do Bộ Ngoại Giao dự thảo: dùng công thức LHQ nói về vấn đề diệt chủng và cho Khmer Đỏ vào chính phủ liên hiệp Campuchia, nhận vai tṛ Sihanouk. BCT thấy không nên giao cho LHQ tổ chức tổng tuyển cử mà nên trở lại phương án 4 mà BCT thông qua ngày 6.12.89 (lập chính phủ liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử.) Đại đa số BCT đồng ư. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên c̣n nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu. TBT có ư kiến: "Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ CNXH, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa 2 nước. Các vấn đề khác giải quyết sau, một Campuchia thân thiện với Trung quốc, thân thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề Campuchia có lợi cho Campuchia. Phương án 4 là tốt. Không để LHQ nhúng tay vào v́ LHQ là Mỹ, Thái lan là Mỹ".

      Riêng Nguyễn Cơ Thạch nói rơ quan điểm của Bộ Ngoại giao là cần tranh thủ Trung Quốc, song đồng thời phải chuẩn bị có 3 khả năng về thái độ của Trung Quốc.

      khả năng 1: Trung Quốc cùng ta bảo vệ chủ nghĩa xă hội;

      khả năng 2: Trung Quốc cấu kết với Mỹ chống ta như trước;

      khả năng 3: Trung Quốc vừa b́nh thường hoá quan hệ với ta, vừa tranh thủ Mỹ, phương Tây là chính.

      Lúc đó tôi có cảm giác nhiều uỷ viên BCT không tán thành quan điểm này v́ đă có định hướng "cùng Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xă hội chống đế quốc".

      Ngày 16.4.90, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị theo hướng sớm làm lành với Bắc Kinh, anh Nguyễn Cơ Thạch đi PhnomPenh gặp 4 người chủ chốt trong BCT Campuchia: Heng Somrin, Chia Xim, Hunxen và Sor Kheng để cố thuyết phục bạn nên tính tới bước sách lược về vấn đề diệt chủng và không gạt Khmer Đỏ. Nhưng Bạn Campuchia không đồng ư và tỏ ra muốn giữ đường lối độc lập trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, không muốn ta đàm phán với Trung Quốc về các vấn đề nội bộ của Campuchia. Bạn tỏ ra rất găng về vấn đề diệt chủng, nói nếu bỏ ta sẽ không c̣n vũ khí ǵ chống lại các luận điệu của đối phương vu cáo "Việt Nam xâm lược Campuchia", "chính quyền PhnomPenh do Việt Nam dựng lên". Hơn nữa chính lúc này phương Tây lại đang khơi lên vấn đề lên án diệt chủng.

      Phải nhận rằng ta khuyên bạn Campuchia đi vào "giải pháp Đỏ" (từ năm 1987), việc ta thuyết phục Bạn chấp nhận vai tṛ của LHQ (tháng 12.89) rồi lại bảo Bạn bác vai tṛ của LHQ (tháng 3.90), khuyên Campuchia đi vào phương án 4 (lập chính phủ liên hiệp 2 bên) (tháng 4.90) đă gây nghi ngờ trong lănh đạo Campuchia đối với Việt Nam. Việc lănh đạo Campuchia không chấp nhận gợi ư của BCT ta trong cuộc hội đàm ngày 17.4.90 đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ Việt Nam - Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia.

      Ngày 2.5.90 dưới danh nghĩa "đi kiểm tra sứ quán", anh Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh để có cuộc "trao đổi ư kiến không chính thức" với Trung Quốc. Lần này đối tác không phải thứ trưởng Lưu Thuật Khanh mà là trợ lư bộ trưởng Từ Đôn Tín. Phụ tá cho anh Liêm là anh Đặng Nghiêm Hoành, lúc này đă là đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc từ tháng 2.90. Cuộc đàm phán [có vài tiến triển nho nhỏ.]

      Nội dung cuộc trao đổi ư kiến chủ yếu về vấn đề Campuchia. Ta tỏ ra mềm dẻo hơn, nói có thể trao đổi ư kiến về một giải pháp toàn bộ, nhưng không thể quyết định về các vấn đề nội bộ Campuchia. Từ nhắc lại lời Đặng Tiểu B́nh: Để giải quyết vấn đề Campuchia cần phải thực hiện 3 điểm: một là, Việt Nam thực sự rút quân, rút "sach sẽ, triệt để", đó là tiền đề cho việc giải quyết vấn đề Campuchia; hai là, sau khi Việt nam rút quân, 4 bên Campuchia cần thực hiện liên hiệp; ba là, chính phủ liên hiệp phải do hoàng thân Sihanouk đứng đầu, Polpot không được mà Hunxen cũng không được. Nếu những vấn đề trên được giải quyết th́ có thể nói là chúng ta đă kết thúc quá khứ, tiếp đó sẽ mở ra tương lai.

      Lần này phía Trung Quốc đi vào những vấn đề thuần tuư nội bộ của Campuchia, đ̣i ta đàm phán về phạm vi quyền lực của SNC và về việc xử lư quân đội "4 bên" Campuchia. Về vấn đề chính quyền Campuchia trong thời kỳ quá độ (từ khi Việt Nam rút hết quân đến khi tổng tuyển cử), Từ nói Trung Quốc thấy tốt nhất là thành lập một chính phủ liên hiệp 4 bên - gọi là Hội đồng Dân tộc Tối cao cũng được - bằng không th́ phải chọn phương án giao quyền cho LHQ. Chính quyền thời kỳ quá độ này phải bao gồm cả 4 bên Campuchia (với hàm ư Khmer Đỏ được chính thức coi là một bên tham chính) mới thể hiện được tinh thần hoà giải dân tộc. Nếu các đồng chí thấy nói 4 bên có khó khăn th́ nói là các bên Campuchia cũng được. Không gạt một bên nào, không bên nào nắm độc quyền. Trong buổi làm việc với anh Đặng Nghiêm Hoành sáng 4.5.90, Vụ phó Trương Thanh cũng nhắc lại ư này: Hội đồng này bao gồm đại diện của 2 chính phủ, 4 bên hay các bên Campuchia đều được. Từ nói: "Nếu so sánh giữa phương án chính phủ liên hiệp lâm thời do Trung Quốc đề ra và phương án LHQ quản lư th́ chúng tôi vẫn thấy phương án Trung Quốc là tốt hơn". Về vấn đề diệt chủng, Từ nói có ư đe doạ là nếu cứ khẳng định Khmer Đỏ phạm tội th́ phía bên kia sẽ nói Việt Nam là xâm lược và PhnomPenh là nguỵ quyền, cho nên, không nên nói đến vấn đề đó nữa.

      Trong đàm phán, phía Trung Quốc để lộ rơ ư đồ muốn SNC thực tế sẽ thay thế chính phủ PhnomPenh; c̣n quân đội của "4 bên" Campuchia phải tập kết vào những địa điểm được chỉ định rồi giải giáp toàn bộ; ít nhất là lúc đầu giảm quân số tới mức tối đa. Mục đích là tước bỏ thế mạnh cả về chính quyền lẫn về lực lượng vũ trang của Nhà nước Campuchia. Cách làm của Trung Quốc đúng là "một mũi tên bắn hai đích", vừa xoá sạch thành quả cách mạng Campuchia, vừa phân hoá quan hệ Việt Nam - Campuchia. Để tránh đi ngay vào chuyện hóc búa này, anh Liêm nói sẽ đem hai vấn đề này về nghiên cứu thêm rồi sẽ phát biểu. Đồng thời theo chỉ thị trên, ta đă nhận Việt Nam không nói tới từ "diệt chủng" nữa; ta tán thành không nói tới quá khứ nhưng phải đề cập về tương lai và sẽ t́m một công thức khác thích hợp để nói về vấn đề đó. Phía Trung Quốc c̣n đề nghị lănh đạo Việt Nam nên gặp Sihanouk như Sihanouk ngỏ ư, để "tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy giải pháp". Đáng chú ư là Từ Đôn Tín đă gợi ư là sau khi Việt Nam và Trung Quốc nhất trí được về giải pháp Campuchia th́ 3 nước Trung Quốc, Việt nam và Thái Lan sẽ họp lại. Điều này chứng tỏ là Thái Lan giữ một vai tṛ không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khmer Đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề Campuchia.

      Về b́nh thường hoá quan hệ hai nước, phía Trung Quốc không mặn mà ǵ với gợi ư của ta về việc xích lại gần hơn giữa hai nước XHCN để cứu văn sự nghiệp XHCN chung trên thế giới đang lâm nguy. Trung Quốc chỉ đặt quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chung sống hoà b́nh như với các nước láng giềng khác.

      Phần v́ t́nh thế thúc bách đẩy nhanh giải pháp Campuchia, phần v́ hài ḷng với cuộc gặp ấy, Tiền Kỳ Tham đồng ư đầu tháng 6 sẽ cử Từ Đôn Tín sang Hà nội với danh nghĩa "khách của đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội" để tiếp tục trao đổi ư kiến với ta. Đây là lần đầu tiên trong 10 năm qua phía Trung Quốc nhận sang Hà Nội đàm phán với ta, trong khi tuyệt đại đa số các đợt đàm phán Việt - Trung đều tiến hành ở Bắc Kinh. Đồng thái độ này đă được lănh đạo ta hiểu như một cử chỉ thiện chí đặc biệt của Trung Quốc đối với Việt Nam.

      Thuốc đắng nhưng không dă được tật

      Sáng 30.5.90, BCT họp bàn về đàm phán với Trung Quốc, TBT Nguyễn Văn Linh thông báo với Bộ Chính trị về cuộc họp với 2 TBT đảng Lào và đảng Campuchia ngày 20 - 21.5, nói ra dự định sẽ gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Cố vấn Phạm Văn Đồng và một số trong BCT tỏ ư phải thận trọng trong xử sự với Trung Quốc. Anh Tô nói: Mấy ngh́n năm Trung Quốc vẫn là Trung Quốc, không nên cả tin. Ta cần thăm ḍ thúc đẩy nhưng phải cảnh giác, đừng để hớ. Đỗ Mười cũng khuyên anh Linh không nên gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín trước cuộc đàm phán. Nhưng Lê Đức Anh lại tỏ ra đồng t́nh với dự định của anh Linh, cho rằng phải thăm ḍ và phân tích chiến lược của Trung Quốc, xử lư mối quan hệ của 3 nước lớn và 5 nước thường trực HĐBA, tranh thủ thế giới thứ ba, ủng hộ các nước XHCN. Đa số trong BCT đều cho rằng không nên nói đến "giải pháp Đỏ" với Trung Quốc nữa. Cuối cùng TBT Nguyễn Văn Linh kết luận lại là anh sẽ chỉ gặp đại sứ Trung Quốc, c̣n không gặp Từ Đôn Tín; về phía lănh đạo ta, chỉ có anh Thạch tiếp Từ. Nguyễn Văn Linh c̣n nói khi gặp Trương Đức Duy anh sẽ chỉ nói về hợp tác hai nước và đề nghị gặp cấp cao, không nói đến "giải pháp Đỏ". Nhưng trên thực tế trong cuộc gặp đại sứ Trung Quốc vài hôm sau, Nguyễn Văn Linh đă lại nêu vấn đề đó.

      Ngày 5.6.90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đă mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật để tỏ ḷng trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê b́nh của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói "Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đă sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa". Anh sốt sắng ngỏ ư muốn sang gặp lănh đạo Trung Quốc để "bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xă hội" v́ "đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xă hội... chúng âm mưu diễn biến hoà b́nh, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành tŕ XHCN, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xă hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lănh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xă hội, kiên tŕ chủ nghĩa Mác - Lênin". Về vấn đề Campuchia, anh Linh đă gợi ư dùng "giải pháp Đỏ" để giải quyết: "Không có lư ǵ những người cộng sản lại không thể bàn với những người cộng sản được", "họ gặp Sihanouk c̣n được huống chi là gặp lại nhau".

Sáng 6.6.90, Bộ trưởng Quốc pḥng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người, Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này măi đến ngày 19.6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán 11 - 13.6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đă gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ư mà anh Linh đă nói với đại sứ Trung Quốc hôm trước (gặp cấp cao hai nước; hai nước đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xă hội; hai nhóm cộng sản Khmer nên nói chuyện với nhau). Nhưng trước đó, từ ngày 6.6, phía Trung Quốc (tham tán Lư Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đă cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. C̣n đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6.6, anh Lê Đức Anh đă nói khá cụ thể về "giải pháp Đỏ": "Sihanouk sẽ chỉ đóng vai tṛ tượng trưng, danh dự, c̣n lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot, Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của ḿnh, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, c̣n bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn như thường... Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi..."

      Trưa ngày 9.6.90, Đại sứ Trương Đức Duy nói với Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao ta rằng, trong cuộc gặp TBT Nguyễn Văn Linh, phía Trung Quốc rút ra được 3 ư kiến:

      1. Đồng chí Nguyễn Văn Linh nói về quan hệ hai nước rất đậm đà. Nói 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái sai như lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa. Muốn gặp cấp cao Trung Quốc để trao đổi những vấn đề lớn trong quan hệ hai nước.

      2. Về t́nh h́nh quốc tế: t́nh h́nh Liên xô, Đông Âu có nhiều thay đổi. Liên Xô trước đây là thành tŕ của CNXH, nay thành tŕ này cũng lung lay rồi. Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ CNXH, kiên tŕ chủ nghĩa Mác - Lênin. Việt Nam kiên tŕ chủ nghĩa Mác - Lênin. Những mgười cộng sản chân chính phải đoàn kết để bảo vệ CNXH. Chủ nghĩa đế quốc luôn tấn công vào CNXH. Chúng tuyên bố đến cuối thế kỷ này sẽ làm cho CNXH biến mất.

      3. Về Campuchia: tại sao những người cộng sản không hợp tác với nhau? Polpot và Hunxen phải hợp tác với nhau.

      Chiều 10.6.90, Bí thư thứ nhất sứ quán Trung Quốc Hồ Càn Văn nói với anh Vũ Thuần, Vụ phó vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao: "Từ Đôn Tín tuy là trợ lư ngoại trưởng nhưng là người có thực quyền trong việc giải quyết các vấn đề châu Á. Trên khía cạnh nào đó có thể nói c̣n có thực quyền hơn cả cấp thứ trưởng. Việc Từ sang Việt Nam lần này là có sự quyết định của cấp cao nhất của Trung Quốc, chứ không phải Bộ Ngoại giao."

      Theo Hồ Càn Văn, ngày 23.5.90 Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc pḥng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đă mời Tuỳ viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là TBT Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Quốc pḥng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Chính những động thái bất thường và vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao này của ta đă làm cho Trung Quốc hiểu rằng nội bộ Việt Nam đă có sự phân hoá và vai tṛ của Bộ Ngoại Giao không c̣n như trước.

      Ngày 8.6.90, khi được biết là lần này tôi sẽ là người đứng ra thay anh Đinh Nho Liêm đàm phán với Từ Đôn Tín. Bộ trưởng Quốc pḥng Lê Đức Anh c̣n điện thoại dặn tôi tránh chủ động nói đến "giải pháp Đỏ": Việc hai bên Đỏ tiếp xúc với nhau là chuyện lâu dài, cần cho ổn định lâu dài. Trung Quốc sẽ tác động với phía Campuchia thân Trung Quốc, ta sẽ tác động với phía Campuchia thân ta để hai bên kiềm chế việc thù địch nhau. Việc này phải có thời gian, không thể nhanh được, không thể đ̣i họ trả lời ngay. Đừng thúc họ, cứ để họ chủ động, khi nào trả lời được th́ họ trả lời... Phải rất bí mật. Lộ ra rất nguy hiểm. Chỉ nói khi gặp riêng chứ không nói khi đàm phán. Việc anh Nguyễn Văn Linh đặt vấn đề với đại sứ Trương Đức Duy nói sẵn sàng đi Trung Quốc gặp cấp cao nhất, cũng không nên hỏi lại nếu họ chưa nói tới." Những lời dặn ḍ này đối với tôi thực ra là không cần thiết, không phải v́ tôi sẵn ư thức bảo mật cao, mà bởi v́ ngay từ đầu tôi đă khó chịu với cái ư nghĩ gọi là "giải pháp Đỏ", với ư nghĩ bắt tay với bọn diệt chủng - dù chỉ là gián tiếp - để làm vừa ḷng Trung Quốc. Nhưng sự việc trở nên phức tạp khi trưa ngày 11.6.90 sau đàm phán phiên đầu với Từ Đôn Tín, tôi về Bộ Ngoại Giao hội báo lại với anh Thạch. Anh Thạch lúc này đang họp Hội nghị ngoại giao đánh giá t́nh h́nh Đông Âu - Liên Xô. Nghe tôi phản ánh t́nh h́nh đàm phán xong, anh liền gạn hỏi tôi có nói với Từ về "giải pháp Đỏ" không. Tôi nói: "Đồng chí Lê Đức Anh đă dặn phải thận trọng tránh nói đến vấn đề đó khi đàm phán." Anh Thạch vặn lại: "Vậy đồng chí nghe theo ư kiến bộ trưởng Quốc pḥng hay ư kiến bộ trưởng Ngoại giao?". Tôi đáp: "Là cán Bộ Ngoại Giao, tôi sẵn sàng chấp hành ư kiến anh, với sự hiểu biết rằng anh nói với tư cách là uỷ viên Bộ Chính trị". Lúc ấy tôi thật bất ngờ trước phản ứng của anh Thạch, nhưng đồng thời cũng cảm nhận được vết rạn nứt trong BCT đă khá sâu.

      Phía Trung Quốc tất nhiên không để lọt hiện tượng này v́ chính họ đang muốn tác động vào nội bộ ta. Chính thái độ quá đặc biệt, quá nhún ḿnh và cũng quá sơ hở của lănh đạo ta ngày 5 và 6.6.90 đă gây khó khăn không nhỏ cho ngoại giao ta trong đợt đàm phán này. Ngay từ hôm đầu đến Hà Nội và trong suốt mấy ngày đàm phán, Từ Đôn Tín luôn giở giọng cao ngạo, dùng uy lực của chính lănh đạo ta để gây sức ép với cán bộ ngoại giao ta. Ngay trong lời đáp Từ tại buổi tiệc của tôi chiêu đăi đoàn Trung Quốc tối 9.6.90, Từ đă nói: "Sau khi nghe đại sứ Trương Đức Duy báo cáo lại, tôi càng tăng thêm ḷng tin tưởng, tôi tin rằng đồng chí thứ trưởng Trần Quang Cơ và các đồng chí ở Bộ Ngoại giao Việt Nam nhất định sẽ tuân theo ư nguyện và tinh thần của các đồng chí lănh đạo Việt Nam, cụ thể hoá vào cuộc trao đổi với chúng tôi để chúng ta nhanh chóng giải quyết xong vấn đề".

      Vào phiên đàm phán đầu tiên, sáng 11.6.90, Từ đă t́m cách ghim lại những điểm có lợi cho Trung Quốc hoặc ít nhất cũng hợp với ư đồ của họ bằng cách nêu ra "5 nhận thức chung rất bổ ích" mà hai bên đă đạt được trong cuộc gặp ở Bắc Kinh đầu tháng 5.90:

      1. "Hai bên đều cho rằng vấn đề Campuchia cần đạt được một giải pháp toàn diện, công bằng và hợp lư.

Phía Việt Nam bày tỏ đă rút hết quân khỏi Campuchia, chấp nhận sự kiểm chứng của LHQ và cam kết sẽ không quay lại Campuchia.

      2. Hai bên đều cho rằng, trong thời kỳ quá độ ở Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân, chấm dứt viện trợ bên ngoài và thực hiện ngừng bắn, cần thành lập Hội đồng toàn quốc tối cao. Về nguyên tắc, hai bên chúng ta đều tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao phải là cơ cấu quyền lực có thực quyền. C̣n việc tổ chức Hội đồng đó thế nào, ư kiến của hai bên cơ bản nhất trí với nhau. ứng cử viên của Hội đồng đó cụ thể là ai th́ phải do các bên Campuchia lựa chọn. Trung Quốc, Việt Nam tôn trọng sự lựa chọn đó. Chúng ta tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao không loại trừ bất cứ bên nào, cũng không để bên nào nắm độc quyền. Về Hoàng thân Sihanouk, hai bên đều chủ trương Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch Hội đồng toàn quốc tối cao.

      3. Vấn đề quân sự trong thời kỳ quá độ, hai bên đều cho rằng để tránh xảy ra nội chiến và giữ hoà b́nh ở Campuchia, cần có sự sắp xếp thoả đáng quân đội 4 bên Campuchia. Dĩ nhiên sắp xếp như thế nào, hai bên chúng ta cần bàn thêm.

      4. C̣n một điểm nữa, các đồng chí Việt Nam bày tỏ từ nay về sau sẽ không nhắc đến vấn đề diệt chủng, kể cả trong các văn kiện quốc tế cũng không nêu nữa".

      V́ vậy Từ đề nghị tập trung bàn hai điểm tồn tại của lần gặp trước là vấn đề phạm vi quyền lực của SNC và vấn đề lực lượng vũ trang của các bên Campuchia trong thời kỳ quá độ. Trong 3 ngày đàm phán, mỗi khi phía Trung Quốc thấy ta không chấp nhận yêu sách vô lư của họ về hai vấn đề thuộc nội bộ Campuchia này, nhất là khi ta kiên tŕ công thức "hai bên Campuchia" - tức là hai chính phủ PhnomPenh và chính phủ Campuchia Dân chủ -, hoặc có thể nói "các bên Campuchia", nhưng dứt khoát bác công thức "4 bên Campuchia" của họ mang hàm ư chấp nhận vai tṛ hợp pháp của bọn Khmer đỏ và nhắc đến thoả thuận Tokyo, th́ Từ lại lên giọng chê trách tôi làm trái ngược ư kiến của lănh đạo Việt Nam. Y đưa ra lập luận là lănh đạo Việt Nam đă đưa ra ư "hợp tác giữa 2 phái cộng sản Khmer" tức là nhận từ "4 bên Campuchia" (có nghĩa là đưa Khmer đỏ lên ngang với Chính phủ PhnomPenh). Từ nói: "Phát biểu của các đồng chí không nên trái ngược với các đồng chí lănh đạo Việt Nam. ư kiến của Bộ Ngoại giao nên nhất trí với ư của lănh đạo cấp cao, không nên có hai tiếng nói trái ngược". Tôi phải đưa Từ trở về vị trí của y: "Đồng chí có thể yên tâm, không cần lo hộ chúng tôi là Bộ Ngoại giao có tiếng nói khác Trung ương. Đảng chúng tôi nhất trí từ trên xuống dưới. Bộ Ngoại giao là một bộ phận chịu sự lănh đạo chặt chẽ của Bộ Chính Trị chúng tôi".

      Về vấn đề Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia, Trung Quốc kiên tŕ 3 điểm:

      1. SNC phải là cơ quan chính quyền tối cao hợp pháp duy nhất, đại diện cho độc lập, chủ quyền, thống nhất của Campuchia. Về mặt đối ngoại, đại diện cho Campuchia trên quốc tế, giữ ghế của Campuchia ở LHQ; về mặt đối nội, thực hiện quyền lập pháp và quản lư hành chính, trực tiếp nắm các ngành quan trọng ảnh hưởng đến tổng tuyển cử tự do, công bằng gồm quốc pḥng, ngoại giao, nội vụ, tuyên truyền, tài chính (với hiểu ngầm là xoá 5 bộ này của chính quyền PhnomPenh).

      2. Không loại bên nào (tức là không loại Khmer Đỏ), không bên nào độc quyền.

      3. Thành phần, số lượng do 4 bên Campuchia bàn bạc và quyết định. Sihanouk làm chủ tịch SNC (thực chất là bác bỏ Thông cáo chung Tokyo đă thoả thuận là Hội đồng gồm 12 người, chia đều cho 2 bên, mỗi bên 6 người).

      Tôi khẳng định SNC có trách nhiệm và quyền lực trong việc thực hiện các hiệp định được kư kết về Campuchia, về hoà giải dân tộc và về tổng tuyển cử; hai chính quyền hiện tồn tại không được làm việc ǵ cản trở trách nhiệm và quyền lực trên đây của SNC. C̣n việc các bên Campuchia chấp nhận ư kiến của Trung Quốc đến đâu là quyền của các bên Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc không thể thay các bên Campuchia sắp đặt việc nội bộ của Campuchia.

      Về vấn đề lực lượng vũ trang, Trung Quốc đ̣i ghi vào biên bản thoả thuận: quân đội của 4 bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm của uỷ ban giám sát của LHQ chỉ định. C̣n việc giảm quân hay giải pháp th́ để cho SNC hoặc chính phủ sau bầu cử quyết định.

      Tôi nói: "Việt Nam tôn trọng thoả thuận giữa các bên Campuchia ở Tokyo là lực lượng vũ trang ở đâu đóng đó. Nguyên tắc về lực lượng vũ trang các bên Campuchia là chấm dứt nội chiến càng sớm càng tốt, duy tŕ ngừng bắn, không can thiệp vào đời sống chính trị, không can thiệp vào tổng tuyển cử để bảo đảm cho tổng tuyển cử được thực sự tự do và công bằng. C̣n các biện pháp để thực hiện các nguyên tắc trên sẽ do các bên Campuchia thoả thuận với nhau".

      Sau khi tỏ phản ứng về lập trường của ta, Từ nói: "Tôi muốn nói thật rằng nếu lần này chúng ta đi một bước không hay th́ sẽ có hậu quả sau này. Không những hai chúng ta thất vọng mà kết quả c̣n trái ngược với nguyện vọng của đồng chí TBT Nguyễn Văn Linh và các đồng chí lănh đạo khác nói với chúng tôi. Chúng ta đang ở ngă ba đường, lựa chọn thế nào? Thời gian không cho phép. Trung tuần tháng 7, 5 nước Hội đồng bảo an họp lại. Trung Quốc không thể không tỏ thái độ. Nếu Trung Quốc và Việt Nam không đạt được kết quả giải quyết vấn đề Campuchia th́ ḷng mong muốn của chúng ta sẽ chịu hậu quả lớn."

      Như để thuyết phục ta chấp nhận lập trường của họ, Từ đưa ra dự kiến của Trung Quốc giải quyết vấn đề Campuchia theo 5 bước:

      1. Trung - Việt đạt được thoả thuận về giải pháp vấn đề Campuchia và ghi nhận lại bằng một biên bản nội bộ;

      2. Họp ngoại trưởng 5 nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Inđônêxia, Lào và ra tuyên bố chung;

      3. Họp hội nghị có tính chất khu vực giữa 5 nước trên và 4 bên Campuchia;

      4. Họp 5 nước Hội đồng Bảo an và 4 bên Campuchia.

      5. Họp hội nghị quốc tế Paris về Campuchia.

Từ nói chỉ trao đổi nội bộ với ta dự kiến này ở đây, không nói với 4 nước uỷ viên thường trực HĐBA, cũng không nói với Liên Xô để tránh sự quấy nhiễu của bên ngoài. Tôi tránh b́nh luận cụ thể, chỉ nói đây là một gợi ư thú vị, rất đáng suy nghĩ, song cần làm sao cho bước khởi động của chúng ta ở đây có kết quả th́ toàn bộ kế hoạch mới có khả năng triển khai được.

Chiều ngày 12.6.90, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, đă có cuộc họp hẹp giữa hai trưởng đoàn. Qua đó Từ nhờ tôi chuyển tới lănh đạo Việt Nam trả lời của lănh đạo Trung Quốc về những ư kiến mà Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh đă nói với đại sứ Trung Quốc ngày 5 và 6.6.90: "Lănh đạo Trung Quốc rất coi trọng quan hệ Trung - Việt. Lănh đạo Trung Quốc cũng rất coi trọng những ư kiến TBT Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh đă nói với đại sứ Trương Đức Duy. Phía Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung - Việt sớm muộn cũng sẽ b́nh thường hoá. Hai bên đều cần cùng nhau cố gắng để thực hiện. Vấn đề Campuchia, cuộc chiến tranh Campuchia đă kéo dài hơn 10 năm. Đây là vấn đề toàn thế giới quan tâm, các nước trong khu vực, nhất là ASEAN, cũng rất quan tâm. Đối với hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết hiện nay là trên cơ sở những nhận thức chung đă đạt được, tiếp tục trao đổi ư kiến về hai vấn đề tồn tại (vấn đề quyền lực của Hội Đồng tối cao và việc xử lư quân đội của các bên Campuchia), làm sao cho có tiến triển hai vấn đề này. Nếu được như vậy, chúng ta sẽ góp phần vào việc thực sự giải quyết vấn đề Campuchia. Bước đi này là hết sức quan trọng. Chỉ có đi xong bước này, chúng ta mới có thể suy nghĩ đến những bước sau. Cũng có nghĩa là chỉ có đi xong bước này lănh đạo Trung Quốc mới suy nghĩ về việc gặp cấp cao và việc thúc đẩy hai phái cộng sản Khmer hoà giải với nhau".

      Nghe Từ đọc xong, tôi hỏi lại: "Như vậy có phải là chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề quyền lực của SNC và vấn đề lực lượng vũ trang Campuchia th́ Trung Quốc mới nghĩ đến việc gặp cấp cao?" Từ khẳng định đúng là như vậy và nói thêm: "Giải quyết hai vấn đề đó có nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam đă nhất trí cơ bản về việc giải quyết vấn đề Campuchia, sẽ làm thành biên bản chung ghi các điều đă nhất trí làm cơ sở để thúc đẩy giải quyết vấn đề Campuchia, tác động đối với bạn bè mỗi bên và mở đầu quá tŕnh b́nh thường hoá quan hệ hai nước". Từ nói: "Nhất quyết phải giải quyết xong hai điểm tồn tại đó để có được giải pháp toàn bộ, không nên vượt qua vấn đề Campuchia. Giải quyết xong vấn đề Campuchia th́ các bước tiếp theo về gặp gỡ cấp cao và b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước sẽ dễ giải quyết".

      Ngay sau đó, tôi sang gặp thủ tướng Đỗ Mười báo cáo t́nh h́nh cuộc đàm phán để chuẩn bị cho việc anh ấy tiếp Từ Đôn Tín chiều hôm sau như đă dự định. Tôi nói: "Chỉ với việc anh Linh và anh Lê Đức Anh gặp Trương Đức Duy trước khi Từ Đôn Tín tới Hà Nội đă làm cho phía Trung Quốc lên giọng trong đàm phán, nay nếu anh Linh hoặc anh Mười lại tiếp hắn nữa th́ rất không nên". Nghe tôi tŕnh bày xong, Đỗ Mười bảo sở dĩ anh nghĩ đến chuyện gặp Từ là v́ sáng 10.6.90, Lê Đức Anh đến yêu cầu Đỗ Mười gặp Từ, nay như vậy th́ không cần gặp nữa. Đỗ Mười bảo tôi cùng đi ngay sang báo cáo sự t́nh với TBT Nguyễn Văn Linh v́ anh Linh cũng dự định tiếp Từ. Sau khi nghe tôi tŕnh bày, có một phút lặng đi, tôi nghĩ bụng TBT chắc bị bất ngờ về những câu trả lời quá ư lạnh nhạt của lănh đạo Trung Quốc đối với những điều tâm huyết mà anh và Lê Đức Anh đă thổ lộ với đại sứ Trương Đức Duy. Rồi anh Linh cho ư kiến là trong t́nh h́nh này anh Mười hoặc một cấp cao khác của ta không cần tiếp Từ Đôn Tín nữa.

      Ba ngày đàm phán với Từ nói chung là căng, nhưng giông tố chỉ nổ ra khi Từ Đôn Tín đến chào Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chiều 13.6.90 trước khi đoàn Trung Quốc rời Hà Nội. Ngay từ đầu không khí tṛ chuyện đă không lấy ǵ làm mặn mà lắm. Nhưng đến khi Từ nói: "Các đồng chí nói chúng ta nên khuyên hai phái cộng sản Campuchia hoà giải với nhau, [nói đó là mong muốn chân thành của Việt Nam. Nhưng trên thực tế, các đồng chí cố sức tiêu diệt Khmer Đỏ. Nếu lănh đạo Việt Nam muốn có sự hoà giải giữa hai nhóm cộng sản Khmer th́ lẽ dĩ nhiên phải chấp nhận "4 bên".] Chúng tôi không thể hiểu được trong hai giọng nói đó, cái nào là thật, cái nào là giả. Nghe tiếng nói này th́ tiếng nói kia là giả dối, nghe tiếng nói kia th́ tiếng nói này là giả dối. Mong rằng sau này các đồng chí không nên làm như vậy", anh Thạch đă phản ứng mạnh: "Chúng tôi không đ̣i các đồng chí nói chỉ có hai bên Campuchia; các đồng chí cũng không thể đ̣i chúng tôi nói 4 bên. Chúng tôi nói các bên, không loại bỏ bên nào là đủ rồi. Nếu nói khác đi là chống lại Hội nghị Tokyo. Tôi nói thật, dùng thủ đoạn xuyên tạc th́ rất khó đàm phán... Tôi rất trọng đồng chí nhưng rất không hài ḷng với những điều đồng chí nói v́ đồng chí có những xuyên tạc. Như thế rất khó đàm phán". Cuộc nói chuyện kết thúc bằng câu "Chào Ngài!" của Từ Đôn Tín. Và anh Thạch cũng đáp lại bằng từ đó thay vào từ "đồng chí".

      Tôi không có mặt trong buổi anh Thạch tiếp Từ Đôn Tín, nhưng khi nghe kể lại chuyện đó tôi không hề ngạc nhiên. Tôi nhớ như in cái giọng ngạo mạn kiểu "sứ giả thiên triều" của Từ trong buổi gặp ngày 13.6.90: "Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đă chuẩn bị ư kiến về quan hệ hai nước Trung Quốc - Việt Nam". Khi nói "nguyện vọng của các đồng chí" là Từ muốn nói đến những điều mà Anh Linh và Lê Đức Anh đă nói với đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy ngày 5 và 6.6.90. Đây là cuộc đàm phán giữa hai quốc gia b́nh đẳng, làm sao Trung Quốc có thể nói đến chuyện "xem xét nguyện vọng" của lănh đạo Việt Nam được. Thêm vào đó, tâm trạng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch trong những ngày này lại đang nặng chĩu những suy tư khác.

      Sau khi xảy ra va chạm giữa Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch và trưởng đoàn Trung Quốc Từ Đôn Tín, sức ép vào nội bộ ta càng mạnh hơn: suốt nửa cuối 1990 đến 1991, Trung Quốc phớt lờ Bộ Ngoại giao, chỉ làm việc với Ban Đối ngoại; Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham từ chối gặp Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại kỳ họp Đại hội Đồng LHQ ở Nữu - ước tháng 9.90. Trước đó, ư đồ Trung Quốc phân hoá nội bộ ta đă bộc lộ rơ: muốn ta phải thay đổi Bộ trưởng Ngoại giao. Không chỉ thế, Trung Quốc c̣n lợi dụng sự cả tin của lănh đạo ta để phá hoại uy tín đối ngoại của ta bằng cách dùng thủ đoạn cố ư lộ tin ra với các nước.

      Liều thuốc của thày Tàu bốc cho ta thật là đắng, thế nhưng đâu có dă được tật!

     

      Bộ chính trị đánh giá cuộc đàm phán tháng 6.90

      Ngày 19.6.90, BCT đă họp để đánh giá cuộc đàm phán. Rất tiếc không hiểu v́ sao ngay sáng hôm họp BCT, anh Linh lại đi vào thành phố Hồ Chí Minh và nhắn qua anh Nguyễn Thanh B́nh đề nghị BCT cứ họp nhưng chưa bàn về phương hướng tới.

Là người trực tiếp đàm phán với Trung Quốc, tôi đă tŕnh bày trước BCT bản báo cáo của Bộ Ngoại Giao trong đó có nhận định về ư đồ của Trung Quốc qua cuộc đàm phán này:

  • Ư đồ Trung Quốc về vấn đề quan hệ với Việt Nam và về vấn đề Campuchia, qua cuộc gặp này đă bộc lộ rơ. Chiến lược của Trung Quốc là đặt ưu tiên cao nhất vào việc tranh thủ Mỹ, phương Tây, ASEAN để phục vụ mục tiêu "4 hiện đại hoá". Chính sách đối với Việt Nam, cũng như với Liên Xô và các nước khác đều phải phục tùng lợi ích tối cao này, không được gây nên bất kỳ ảnh hưởng xấu nào cho quan hệ của Trung Quốc với Mỹ, phương Tây, ASEAN. Chính v́ vậy Trung Quốc đă không đáp ứng những đề nghị mà TBT Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói với Đại sứ Trung Quốc trước cuộc đàm phán này:
    • a. Về việc ta đề nghị gặp cấp cao nhất của 2 nước càng sớm càng tốt, Trung Quốc trả lời chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia th́ lănh đạo Trung Quốc mới suy nghĩ đến việc này, cũng như mới có thể bàn vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước.
    • b. Về việc ta đề nghị hai nước đoàn kết để bảo vệ chế độ XHCN, họ nói rơ họ coi quan hệ với Việt Nam sau này cũng chỉ nằm trong phạm vi quan hệ giữa hai nước láng giềng, trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà b́nh. Họ c̣n nói quan hệ Việt Nam - Trung Quốc không thể làm cho Mỹ và ASEAN lo ngại.
    • c. Về việc ta đề nghị hai nước cùng thúc đẩy 2 phái cộng sản Khmer hoà giải với nhau, họ cũng chỉ trả lời là phải giải quyết xong vấn đề Campuchia th́ lănh đạo Trung Quốc sẽ tính về việc này. Thực chất phương án giải quyết vấn đề Campuchia của Trung Quốc là nhằm xoá đi chính quyền và lực lượng quân sự của Nhà nước Campuchia để giao thực quyền cho SNC do Sihanouk chủ tŕ. Hai chính quyền hiện nay - Nhà nước Campuchia và Campuchia Dân Chủ - đều do hai lực lượng cộng sản kiểm soát là chính, và các lực lượng quân sự Campuchia mạnh nhất cũng là của hai nhóm cộng sản Khmer. Trung Quốc đ̣i cho Sihanouk và lực lượng thân phương Tây vị trí ưu thế bao trùm ở Campuchia, được lực lượng quân sự của LHQ hỗ trợ hoặc đ̣i để LHQ cai trị hoàn toàn Campuchia. Để thực hiện tính toán chiến lược của họ, Trung Quốc sẵn sàng ngả theo phương án của Mỹ và phương Tây, trái với suy tính của ta.
  • Trung Quốc không đáp ứng các đề nghị của lănh đạo ta, đồng thời họ lại đánh giá sai lầm là Việt Nam yếu, có nhiều khó khăn do t́nh h́nh bản thân Việt Nam và do tác động của t́nh h́nh Liên Xô, Đông Âu nên quá lo sợ bị đế quốc diễn biến hoà b́nh như đối với các nước Đông Âu, do đó Việt Nam rất cần Trung Quốc. V́ vậy họ đă lợi dụng ḷng khát khao hợp tác với Trung Quốc của lănh đạo ta để gây sức ép mạnh với ta trong đàm phán. Đồng thời, từ khi có cuộc gặp không chính thức với ta ở Bắc Kinh cho đến nay, Trung Quốc không ngừng đưa tin về các hoạt động của Trung Quốc ở Trường Sa và Hoàng Sa với lư do vừa gây sức ép với ta vừa làm cho Mỹ, ASEAN yên tâm là quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam chẳng phải có sự ưu ái ǵ hơn mối quan hệ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á khác.
  • Trung Quốc ép ta chấp nhận lập trường của họ về 2 vấn đề thuộc phạm vi nội bộ Campuchia c̣n nhằm mục đích chia rẽ ta với bạn Campuchia, sau khi Trung Quốc đă cố gắng tranh thủ Lào nhằm tách Lào khỏi Việt Nam và Liên Xô.
  • Trung Quốc không hài ḷng về Thông cáo chung Tokyo v́ nó đề cao vai tṛ Nhật ở châu Á đồng thời xoá bỏ vai tṛ Khmer đỏ, con chủ bài của Trung Quốc trong vấn đề Campuchia... Ngày 4 và 5.6.90 ở Tokyo đă có cuộc họp giữa các bên Campuchia và đă ra được Thông cáo chung Hunxen - Sihanouk thoả thuận một cuộc ngừng bắn tự nguyện đồng thời với việc lập ra SNC gồm số người của 2 bên ngang nhau (6+6), nhưng Trung Quốc không dám công khai phản đối nên cố kéo ta cùng có lập trường khác với Thông cáo Tokyo.
  • Trung Quốc đưa ra dự kiến giải quyết vấn đề Campuchia theo 5 bước nhằm giành cho Trung Quốc vai tṛ trung tâm và chủ động trong cả quá tŕnh giải quyết vấn đề Campuchia, qua đó khẳng định các vấn đề châu Á không thể chỉ Mỹ và Liên Xô giải quyết mà không có Trung Quốc. Trung Quốc xem đàm phán với ta là bước mở đầu có tính quyết định của "kế hoạch 5 bước" để giải quyết vấn đề Campuchia, v́ Trung Quốc cho rằng Liên Xô không ép được Việt Nam, chỉ có Trung Quốc dùng đ̣n bẩy về b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam mới ép được Việt Nam xoá bỏ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất chính quyền PhnomPenh.
  • Trong quan hệ với ta, Trung Quốc luôn có hai giới hạn: một đàng là Trung Quốc muốn không làm ǵ với Việt Nam gây ảnh hưởng bất lợi đến quan hệ với Mỹ, phương Tây, ASEAN; một đàng là Trung Quốc cũng không muốn tỏ ra quá căng với Việt Nam làm cho vấn đề Campuchia không thể sớm giải quyết được, đồng thời duy tŕ quan hệ căng thẳng với Việt Nam không phù hợp với lợi ích của Trung Quốc lúc này là tạo hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho việc ổn định nội bộ thực hiện "4 hiện đại".

      Nghe xong bản báo cáo và kiến nghị của Bộ Ngoại giao, BCT chưa có ư kiến ngay mà bàn tới diễn biến của cuộc đàm phán vừa qua. Về vụ to tiếng giữa anh Thạch và Từ Đôn Tín chiều 13/6, anh Đào Duy Tùng nói "Cần phải nói lại mạnh mới được". C̣n anh Đồng Sĩ Nguyên nói "Nếu anh không phản ứng mạnh th́ chúng tôi không thể hiểu nổi". Về việc [anh Linh và Lê Đức Anh] gặp Trương Đức Duy trước khi ta và Trung Quốc đàm phán, anh Tô phát biểu: "Trong cuộc họp BCT bàn về đàm phán với Trung Quốc, tôi đă nói 3 lần là không được hớ, phải rất thận trọng với Trung Quốc. Đằng này anh lại ngửa bài trước để họ biết hết và kết quả là cái ǵ đă xảy ra. Trung Quốc họ nghĩ theo kiểu Đại hán của họ và kết quả là họ ép ḿnh. Ngoại giao là một vũ đài, phải giữ thế, không phải lúc nào cũng lật hết lá bài ra. Không thể đưa ngực ra cho nó đấm". Khi anh Lê Đức Anh nói có ư thanh minh sở dĩ anh nói "giải pháp Đỏ" với đại sứ Trung Quốc là v́ BCT Campuchia nhờ ta thăm ḍ Trung Quốc, anh Vơ Văn Kiệt nói: "Nhưng ta thăm ḍ thật thà quá". Anh Vơ Chí Công nói: "Trung Quốc lấy lợi ích dân tộc của họ là chính, không phải theo lợi ích chung của CNXH. Họ khác ta. Dù ta có muốn hợp tác họ cũng không chịu đâu. Không nên ảo tưởng". Anh Lê Đức Thọ, ngày 12.6, khi nghe báo cáo nội dung trả lời của Trung Quốc về các đề nghị của anh Nguyễn Văn Linh và anh Lê Đức Anh, đă có ư kiến: "Việc anh Nguyễn Văn Linh và anh Lê Đức Anh gặp đại sứ Trung Quốc đă làm cho Trung Quốc cứng lên. Đáng lẽ không nên gặp" (Anh Lê Đức Thọ lúc này đang ốm nặng, nằm ở nhà).

      Ngày 22.6, khi dặn ḍ anh Đặng Ngiêm Hoành, đại sứ ta ở Trung Quốc, anh Lê Đức Anh lại nói: "Anh Linh nói chuyện với Trương Đức Duy cũng có đôi chỗ thật ḷng quá. Nhưng cũng không phải v́ thế mà nó cho là ḿnh yếu".

      Tôi nghĩ, xét cho cùng nội bộ ta lúc này đă có hai cách đánh giá về Trung Quốc, cũng như có hai cách đánh giá về cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô nên đă có hai cách xử sự khác nhau. Từ Đôn Tín nói ta có "hai tiếng nói trái ngược", "không biết cái nào giả, cái nào thật" và khuyên "Bộ Ngoại Giao nên nhất trí với ư kiến của lănh đạo cấp cao", như thế có nghĩa là Trung Quốc đă biết nội bộ ta đă có kẽ hở mà họ không dại ǵ bỏ qua không lợi dụng để giành lợi cho họ.

      Ngày 25.6.90 TBT Nguyễn Văn Linh từ thành phố Hồ Chí Minh điện ra cho BCT nói đă đọc biên bản cuộc họp BCT ngày 19.6.90, có một số ư kiến sẽ phát biểu sau. Anh không đồng ư thông báo cho Trung ương và các cấp uỷ về điều tối mật (tức là những điều Lê Đức Anh đă nói với Trương Đức Duy ngày 6.6.90) mà chỉ thông báo rằng cuộc họp Việt - Trung vừa qua không kết quả là do Trung Quốc phá. Ngoại giao cần có cách giải thích cho dư luận theo hướng trên. Đề nghị anh Sáu Nam (Lê Đức Anh) đi ngay Campuchia thông báo cho Bạn. Ngoại giao theo dơi bên Trung Quốc lộ ra những điều mà ta đă lấy t́nh bạn nói với họ th́ phủ nhận ngay, không để chậm 2 - 3 ngày.

      Đợt đàm phán tháng 6.90 không kết quả, nhưng Trung Quốc không cắt cầu như các lần trước mà đề nghị ta trao đổi với họ qua con đường đại sứ. Như vậy, sau khi đàm phán thất bại đă có hai loại hoạt động tiến hành song song: hai bên vừa tiếp tục nói chuyện với nhau, vừa công kích nhau trên mặt trận dư luận.

      Để giành chủ động trong việc tranh thủ dư luận quốc tế, ngày 21.6.90, dưới h́nh thức trả lời phỏng vấn của Việt Nam Thông tấn xă, tôi đă nêu rơ nguyên nhân khiến cuộc nói chuyện với Trung Quốc không tiến triển được chỉ v́ Việt Nam kiên quyết tuân thủ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ Campuchia; cản trở chính cho giải pháp Campuchia là việc Trung Quốc vẫn cố bám giữ bọn diệt chủng Polpot. Song điều khiến Trung Quốc cay cú nhất là tôi đă vạch "Trung Quốc không tán thành Thông cáo chung Tokyo nhưng không muốn đơn phương một ḿnh chống lại. Họ muốn Việt Nam và Trung Quốc cùng có một lập trường trái với Thông cáo chung Tokyo". V́ vậy ngay sau đó, tờ Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh ngày 5.7.90 đă có ngay bài "Kế hoạch một ḥn đá ném hai đích của Hà Nội" của Thái Tích Mai, Tân Hoa Xă phản ứng ngay về bài đó, nói Trần Quang Cơ định "dụ dẫn nhân dân thế giới vào cái bẫy của họ bằng hàng loạt sách lược một ḥn đá nhằm hai cái đích". "Ư đồ thứ nhất của Hà Nội thông qua việc ngừng bắn tại chỗ để che đậy về việc quân đội Việt Nam vẫn có mặt ở Campuchia. Ư đồ thứ hai của Hà Nội là thành lập SNC trong khuôn khổ PhnomPenh. Ư đồ thứ ba là lấy cuộc đối thoại giữa hai chính quyền thay thế nguyên tắc 4 bên".

      Hiểm độc nhất là Trung Quốc đă thông báo khá rộng răi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói riêng với Trương Đức Duy về "giải pháp Đỏ" và đoàn kết XHCN, nhằm gây ấn tượng xấu về ta đối với các nước quan tâm đến vấn đề Campuchia, kể cả Liên Xô và các nước bạn khác của ta.

      Ngày 22.6.90, tại Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đă thông báo cho Đại sứ các nước EEC (Khối thị trường chung châu Âu) về cuộc đàm phán Trung - Việt ở Hà Nội, và nhận xét là Việt Nam hết sức nóng ḷng b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc v́ lo sợ sự suy yếu của Liên Xô và t́nh h́nh hỗn loạn ở Đông Âu. Nói là Việt Nam rất xảo trá, rất cứng rắn. Sáng 26.6.90, đại sứ CHLB Đức khi gặp Vụ Châu Âu II Bộ Ngoại giao ta, cũng cho biết là ngày 22/6 Trung Quốc đă thông báo cho đại sứ các nước Thị trường chung châu Âu ở Bắc Kinh nội dung cuộc hội đàm giữa Từ Đôn Tín và tôi và đưa ra kết luận: "Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa và rất cứng rắn. Họ chỉ muốn Hunxen độc quyền. Họ không chịu nhân nhượng bất cứ điều ǵ... Ông Nguyễn Cơ Thạch là người xảo quyệt, rất cứng rắn và căm thù Trung Quốc cao độ". Ngày 26.6.90, Đại sứ Úc tại Hà Nội nói với Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch: "Trung Quốc đă thông báo cho Thủ tướng Thái Lan là Việt Nam đề nghị Trung Quốc và Việt Nam hợp tác với nhau về vấn đề Campuchia. Việt Nam đề nghị Trung Quốc cùng Việt Nam tham gia một giải pháp XHCN về Campuchia"

      Tuy nhiên, theo chủ trương kiên tŕ thúc đẩy b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc v́ lợi ích chiến lược của ta, trong thời gian này hàng tuần tôi vẫn gặp trao đổi ư kiến với đại sứ Trung Quốc để giữ cầu.

 

      Một sự chọn lựa thiếu khôn ngoan

 

      Trong cuộc gặp tôi ngày 25.6.90 ở Bộ Ngoại giao, không hiểu sao Trương Đức Duy đă đọc lại toàn văn trả lời của lănh đạo Trung Quốc gửi lănh đạo Việt Nam và nói là bản này "chính xác hơn" (so với bản mà Từ Đôn Tín đă chuyển ngày 12.6), trong đó đoạn cuối về Campuchia đă sửa lại là: "Vấn đề Campuchia đă kéo dài 11 năm, trở thành vấn đề quốc tế trọng đại mà cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước ASEAN, rất chú trọng. Chúng tôi cho rằng việc này cần làm gấp. Trước mắt là hai bên Trung Quốc - Việt Nam nên đến thoả thuận càng sớm càng tốt về một số mặt quan trọng trong giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia để thúc đẩy và tăng cường hơn tiến tŕnh giải quyết toàn diện vấn đề Campuchia. Bước này đi tốt th́ có lợi cho việc suy tính những vấn đề của bước sau và tạo điều kiện cần thiết cho cuộc gặp cấp cao Trung Quốc - Việt Nam, và tạo sự hoà giải nội bộ Campuchia". Thực ra nội dung không có ǵ khác, chỉ là lời lẽ được sửa lại cho bớt giọng xấc xược ngạo mạn.

      Ngày 2.8.90, trước khi họp BCT, TBT hỏi Nguyễn Cơ Thạch có nên nhắc lại Trung Quốc về gặp cấp cao và nói "giải pháp Đỏ". Vào cuộc họp, Thạch nói Trung Quốc đă 3 lần bác bỏ "giải pháp Đỏ". Anh Vơ Chí Công nói thêm: "đó chỉ là ảo tưởng, ngây thơ".

      Trong cuộc gặp Trương ngày 5.8.90, tôi đă nêu lại những điểm mà hai bên đă có được sự nhất trí và những điểm tồn tại về vấn đề Campuchia, đồng thời nói rơ lập trường của Việt Nam về vấn đề vai tṛ LHQ và về việc lập SNC. Tôi nhấn mạnh lập trường nguyên tắc của Việt Nam là công việc nội bộ của Campuchia chỉ có thể do người Campuchia quyết định. Trương Đức Duy đồng ư là những vấn đề nội bộ Campuchia phải thuộc chủ quyền của Campuchia, nhưng lại cho rằng nếu không sự can thiệp của bên ngoài th́ sẽ khó có được giải pháp toàn diện. Qua trao đổi, đại sứ Trung Quốc đă phải thừa nhận là các nước khác có thể bàn nhưng phải là người Campuchia quyết định th́ mới thực hiện được. Về quan hệ hai nước, Trương đọc bản đă viết sẵn: "Chúng tôi cho rằng hiện nay t́nh h́nh quốc tế chuyển biến rất nhanh, không chờ đợi chúng ta. Mong phía Việt Nam nắm vùng thời cơ, sớm hạ quyết tâm, có quyết sách loại trừ chướng ngại, tạo điều kiện cho việc sớm b́nh thường hoá quan hệ hai nước", và nói thêm "Trung Quốc coi trọng quan hệ Trung Quốc - Việt Nam nhưng phải làm từng bước một".

      Đến cuộc gặp ngày 13.8.90, theo lời dặn của TBT Nguyễn Văn Linh trong cuộc họp BCT 12.8, sau khi tỏ ư hoan nghênh tuyên bố của Lư Bằng ở Singapore 12.8 ("Trung Quốc hy vọng sắp tới đây sẽ b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam và sẽ bàn bạc với Việt Nam những vấn đề có tranh chấp như quần đảo Trường Sa"), tôi nói: "Lănh đạo chúng tôi rất vui mừng v́ hai bên có suy nghĩ gặp nhau, chúng tôi cho rằng hai nước chúng ta cần có sự hợp tác với nhau trước mắt cũng như lâu dài, về những vấn đề cụ thể như vấn đề Campuchia cũng như các vấn đề rộng lớn hơn mà hai nước cùng có sự quan tâm giống nhau". Trương Đức Duy tŕnh bày 7 điểm lập trường của Trung Quốc về vấn đề Campuchia, trong đó có việc lập SNC gồm 4 bên Campuchia do Sihanouk đứng đầu, thành phần và số lượng do các bên Campuchia quyết định và là cơ chế hợp pháp duy nhất. Các điểm khác không có ǵ mới. Để gây tác động làm giảm sức ép của Trung Quốc, tôi đă thông báo cho Trung Quốc cuộc nói chuyện giữa ta và Mỹ lại Nữu - ước ngày 6.8.90 về vấn đề Campuchia (trong cuộc gặp này Mỹ chủ yếu thăm ḍ, vận động ta chấp nhận 2 văn kiện của P5 về giải pháp Campuchia), Việt Nam và Mỹ sẽ c̣n tiếp tục nói chuyện.

      Tháng 8.90, t́nh h́nh quốc tế cũng như vấn đề Campuchia tiếp tục diễn biến phức tạp. Từ đầu 1990 mở đầu thời kỳ hoà hoăn giữa 3 nước lớn, đồng thời 3 nước lớn bắt đầu dùng cơ chế 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An (P5) giải quyết vấn đề vấn đề vùng Vịnh. Từ khi Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia và càng đi gần vào giải pháp th́ lợi ích của Campuchia và của ta càng kênh nhau. Chúng ta đứng trước t́nh h́nh 5 nước lớn quyết tâm đạt thoả thuận về một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. C̣n Campuchia lại đang trước một t́nh thế tiến thoái lưỡng nan. Khó kéo dài nội chiến v́ khó khăn kinh tế chính trị trong nước và trên thế giới, mà đi vào giải pháp chính trị th́ lo thất bại trong tuyển cử. Mặt khác, thái độ của Mỹ có đổi khác: ngày 18.7.90 ngoại trưởng James Baker tuyên bố Mỹ thôi không công nhận Campuchia Dân chủ (tức chính quyền 3 phái do Sihanouk đứng đầu), lên án Khmer Đỏ, nhận đối thoại với Việt Nam qua phái đoàn ở Nữu - ước. Ngày 6.8.90, ta với Mỹ tiếp xúc ở Nữu - ước, Mỹ chủ yếu thăm ḍ thái độ ta về văn kiện khung của LHQ về giải pháp Campuchia.

      Ngày 8.8.90 Bộ Ngoại Giao tŕnh BCT đề án về vấn đề Campuchia theo hướng phân rơ mặt quốc tế và mặt nội bộ của giải pháp. Về mặt quốc tế, góp ư với bạn nên đồng ư phương án của P5, c̣n mặt nội bộ phải do bạn Campuchia quyết định, ta tôn trọng.

      Chiều 8.8.90, tôi đến gặp Cố vấn Phạm Văn Đồng xin ư kiến về đề án này. Anh nói: T́nh h́nh hiện nay tạo cơ hội thuận lợi cho giải pháp Campuchia. Cần tận dụng cơ hội mới này trong khi ta c̣n sử dụng được. Phải dám chơi với LHQ, với Hội Đồng Bảo An, với Mỹ và phương Tây. Cần tranh thủ nhân tố Mỹ trong t́nh h́nh mới... Đề án về lư thuyết th́ tốt nhưng làm sao thực hiện được... Không nên đặt yêu cầu quá cao "giữ vững thành quả cách mạng (Campuchia)"... Đi vào tổng tuyển cử bạn giành được 50% là lư tưởng..."

      Ngày 12.8.90, BCT họp về đề án Campuchia do Bộ Ngoại Giao thảo. Sau khi thảo luận, anh Linh kết luận: Với Mỹ, ta tiếp tục đối thoại như BCT đă cho ư kiến với Trung Quốc trong cuộc gặp 13/8 giữa tôi và Trương Đức Duy, ta nên nói là 2 nước XHCN Việt Nam và Trung Quốc nên hợp tác giải quyết vấn đề Campuchia để có một nước Campuchia hữu nghị với các nước láng giềng, trước hết là Việt Nam, Trung Quốc, Lào. Ta không nói Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cần đoàn kết chống đế quốc chống đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xă hội.

      Nhưng rồi cuộc gặp Thành Đô đă làm lănh đạo Việt Nam xa rời quan điểm thực tế này mà ngả hẳn theo Trung Quốc, thậm chí c̣n định ép PhnomPenh chấp nhận đ̣i hỏi quá đáng của Bắc Kinh về vấn đề SNC Campuchia.

 

      Cuộc gặp cấp cao Việt - Trung tại Thành Đô

 

      Ngày 29.8.90, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp TBT Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển thông điệp của TBT Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lư Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày 3.9.90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là Đặng Tiểu B́nh có thể gặp anh Tô. Trung Quốc c̣n lấy cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD (Á Vận hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh được v́ khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô.

      Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung Quốc. Trước đây Trung Quốc nói không chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới bàn vấn đề b́nh thường hoá quan hệ. Năm ngày trước - ngày 24.8.90 - Trung Quốc c̣n bác bỏ việc gặp cấp cao, nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp và đồng ư cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề Campuchia và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ.

      Thái độ "thiện chí" gấp gáp như vậy của Bắc Kinh không phải tự nhiên mà có. Nó có những nguyên nhân sâu xa và nhân tố bức bách:

      a. Tất cả những hoạt động đối ngoại và đối nội của Trung Quốc trong hơn 10 năm qua khẳng định chiến lược nhất quán của họ là kiên quyết thực hiện "4 hiện đại", biến Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu trên thế giới, đồng thời xác định vị trí nước lớn của ḿnh trước hết ở Đông Nam Á và châu Á - Thái B́nh Dương. V́ lợi ích chiến lược đó, Trung Quốc kiên tŕ tranh thủ Mỹ, Nhật, phương Tây, đồng thời b́nh thường hoá quan hệ với Liên Xô. Nhưng sau hơn 10 năm cải cách và mở cửa, t́nh h́nh chính trị, xă hội và kinh tế của Trung Quốc rất khó khăn. Sau sự kiện Thiên An Môn, mục tiêu chiến lược đó đang bị đe doạ nghiêm trọng. Về đối ngoại, bị Mỹ, Nhật và phương Tây thi hành cấm vận. Trong khi đó, quá tŕnh cải thiện quan hệ Mỹ - Xô tiến triển rất nhanh. Xô - Mỹ hợp tác chặt chẽ giải quyết các vấn đề thế giới và khu vực không kể đến vai tṛ của Trung Quốc. Ngay trong vấn đề Campuchia, vai tṛ Trung Quốc cũng bị lấn át (Xô - Mỹ tiếp xúc trao đổi chặt chẽ về vấn đề Campuchia, cuộc gặp Sihanouk - Hunxen ở Tokyo là do sự dàn xếp của Mỹ, Nhật và Thái, ngoài ư muốn của Trung Quốc). Phương Tây tiếp tục đ̣i Trung Quốc thực hiện dân chủ và giải quyết vấn đề Campuchia trên cơ sở kiềm chế Khmer Đỏ.

      b. Chuyến đi Đông Nam Á của Lư Bằng (6 - 13.8.90) nằm trong yêu cầu chiến lược của Trung Quốc tranh thủ hoàn cảnh quốc tế hoà b́nh để thực hiện "4 hiện đại", diễn ra trong bối cảnh liên minh Trung Quốc xây dựng ở Đông Nam Á trong 10 năm qua để chống Việt Nam đang tan vỡ sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và sau khi Mỹ đă điều chỉnh chính sách. Cuộc đi thăm của Lư đă bộc lộ những điểm đồng và bất đồng giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Các nước ASEAN vẫn rất lo ngại lư do bành trướng của Trung Quốc. Trung Quốc buộc phải cam kết nội bộ các nước trong khu vực, ủng hộ các đảng cộng sản và vấn đề Hoa kiều, tuyên bố sẵn sàng thương lượng và hợp tác về vấn đề Trường Sa. Tiếp tục đối đầu với Việt Nam không c̣n phù hợp với chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc lúc này nữa.

      c. Sau khi Việt Nam đă hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia, các nước phương Tây, Mỹ, Nhật, ASEAN đi vào cải thiện quan hệ với ta theo hướng không có lợi cho tính toán của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước t́nh h́nh đó, Trung Quốc không muốn chậm chân.

      d. Về thời điểm: trong cuộc họp ngày 27 và 28.8.90 tại Nữu - ước, P5 đă thoả thuận văn kiện khung về giải pháp toàn bộ cho vấn đề Campuchia (gồm các vấn đề: các lực lượng vũ trang Campuchia, tổng tuyển cử dưới sự bảo trợ của LHQ, nhân quyền và bảo đảm quốc tế đối với thể chế tương lai của Campuchia). Văn kiện về nhân quyền không đề cập trực tiếp đến vấn đề diệt chủng, chỉ nói Campuchia sẽ "không trở lại chính sách và hành động trong qúa khứ". C̣n Trung Quốc buộc phải nhân nhượng không c̣n đ̣i lập chính phủ liên hiệp 4 bên ngang nhau, phải chấp nhận vai tṛ lớn của LHQ. P5 thoả thuận lịch giải quyết vấn đề Campuchia: trong tuần từ 3.9 đến 9.9 họp các bên Campuchia ở Jakarta để lập SNC trước phiên họp Đại hội đồng LHQ, tiếp đó họp mở rộng với các nước trong khu vực (có Trung Quốc), đến khoảng tháng 10 - 11.90 họp uỷ ban Phối hợp Hội nghị Paris về Campuchia để soạn thảo Hiệp định trên cơ sở văn kiện khung do P5 vạch ra, các ngoại trưởng kư Hiệp định; 15 nước trong Hội đồng Bảo An thông qua. Trung Quốc đặt cuộc gặp cấp cao Trung - Việt trong cái khung thời gian này. Tuy nhiên Bắc Kinh dấu không cho ta biết ǵ về những thoả thuận giữa họ và các nước lớn trong Hội đồng bảo an, mặt khác cũng giữ kín cuộc hẹn gặp ta ở Thành Đô v́ không muốn làm cho phương Tây và ASEAN lo ngại khả năng đoàn kết hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam.

     

C̣n tiếp ...