Giai đoạn tiên khởi

                                                 * Bối cảnh lịch sử

                                                 * Khai sinh lực lượng

                Vào thời kỳ từ năm 1930 đến 1939, lịch sử dân tộc Việt Nam đă chứng kiến nhiều biến cố quan trọng về chính trị, kinh tế và xă hội có liên hệ đến công cuộc đấu tranh giành độc lập của các đảng cách mạng quốc gia. Cuộc khởi nghĩa thất bại của Việt Nam Quốc Dân Đảng tháng 2-1930 đưa đến cái chết của 13 liệt sĩ trên đoạn đầu đài chứng tỏ thực dân Pháp vẫn cứng rắn trong chính sách đàn áp sắt máu của họ. Phong trào Xô-Viết Nghệ Tĩnh do Cộng Sản phát khởi ngày 1-5-1930, lợi dụng các tầng lớp nông dân, công nhân nổi dậy tiêu diệt các cơ cấu chính quyền thuộc địa, thành lập các xô-viết (ủy ban) cho các mục tiêu chính trị manh động của họ cũng bị dẹp tan. Các phần tử cách mạng bị thủ tiêu, giam cầm hay im hơi lặng tiếng hoặc bôn tẩu ra ngoại quốc. Ở Nam Việt, nhóm Cộng Sản Đệ Tứ như Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm hoạt động qua các cuộc ứng cử vào các hội đồng thành phố. Năm 1932, Bảo Đại về nước chấp chánh, sau đó đưa ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thượng Thư Bộ Lại, đứng đầu Hội Đồng Cải Cách để mong lấy lại chủ quyền quốc gia trong tay người Pháp, nhưng chương tŕnh đó đă thất bại. Sự thành công của cánh tả tại Pháp với Mặt Trận B́nh Dân (Front Populaire) lên cầm quyền (1936-39) có làm đổi thay ít nhiều không khí chính trị tại nước ta nhưng cũng không mở ra nhiều triển vọng tốt cho con đường đấu tranh của người Việt Nam yêu nước. Tên Việt Nam, được gọi thường ngày là An Nam hoặc Xứ Đông Pháp hay Đông Dương thuộc Pháp (Indochine Francaise) hoặc Liên Bang Đông Dương (Fédération Indochinoise), cơ hồ biến mất trên bản đồ đất nước. Khuynh hướng chính trị tư sản của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cũng bước đầu đặt cơ sở cho tiến tŕnh cải cách xă hội, vận động nâng cao dân trí. Cuộc sống của người dân nói chung vẫn quá cơ cực v́ thuế má nặng nề nhất là đại đa số nông dân. Năm 1938, Bảo Đại cùng với Thượng Thư Phạm Quỳnh sang Pháp để vận động người Pháp thực hiện sự hợp nhất Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng cũng không thu được kết quả khả quan. Trong lúc các hoạt động chính trị cứu nước cơ hồ bị lắng động th́ những phần tử thanh niên đă trỗi dậy, khởi đầu từ những sinh viên Việt Nam là những thành phần ưu tú quả cảm của dân tộc. Người xướng xuất ra công cuộc cách mạng mới là một sinh viên Luật khoa Đại Học Hà Nội: Anh TRƯƠNG TỬ ANH.

                Anh Trương Tử Anh sinh năm Giáp Dần (1914), tên là Trương Khán, bí danh Phương, thường gọi Cả Khán hay Cả Phương. Sau này v́ sự hoạt động gan góc, kiên tŕ của anh nên anh c̣n được gọi là Khán Lỳ. Ḍng tộc của anh vốn gốc Thanh Hóa theo bước chân Nam tiến từ đầu thế kỷ 17, vào định cư tại làng Mỹ Thạnh (Trung), xă Ḥa Phong, quận Tuy Ḥa, tỉnh Phú Yên. Ông nội anh là cụ Trương Chính Đường đỗ Hương thí năm 1852, sáng lập Hội Văn-Phổ Phú Yên, có tham gia Phong Trào Cần Vương. Thân sinh anh là cụ Trương Bội Hoàng và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Miên; gia đ́nh gồm có 10 người con mà Trương Tử Anh là con cả. Thuở nhỏ Trương Tử Anh học bậc tiểu học tại Trường Phủ ở Thị xă Tuy Ḥa hàng ngày có dịp làm quen với các tài liệu sách báo cách mạng trong gia đ́nh của cụ thân sinh. Lớn lên Trương Tử Anh theo học bậc trung học tại Quy Nhơn rồi Huế vốn là những nơi có các phong trào yêu nước bùng nổ. Năm 1934, Trương Tử Anh ra Hà Nội theo học đại học Luật khoa để rồi từ đó dấn thân vào con đường cách mạng.

                Trường Đại Học Hà Nội do Toàn quyền Beau (1902-1908) sáng lập năm 1908, mục đích để cầm giữ sinh viên khỏi tham gia Phong Trào Đông Du hay nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà cách mạng Việt Nam phát động trong đầu thế kỷ 20. Bị Toàn quyền Klobukowski đóng cửa cũng trong chính năm 1908 v́ sinh viên VN vẫn cứ theo các trào lưu cách mạng, trường Đại Học Hà Nội được mở cửa lại vào năm 1911 dưới thời Toàn quyền Albert Sarraut. Đây là nơi quy tụ sinh viên của toàn cơi Đông Dương (Việt, Miên, Lào) nên cũng là môi trường cách mạng thuộc nhiều khuynh hướng chính trị của lớp người trẻ Việt Nam.

                Sau khi điều nghiên sâu rộng các tài liệu chính trị đương thời, anh Trương Tử Anh đă cương quyết đánh đổ ngụy thuyết Cộng Sản và ngụy thuyết Quốc Xă mặc dầu đó là những lư thuyết thịnh hành lúc bấy giờ. Anh quan niệm cứu cánh của dân tộc không thể dựa trên căn bản những chủ thuyết nhập nội mà lư luận không đứng vững, sự thực hiện không tương hợp với bản năng của ṇi giống, không đề cao được tinh thần tự quyết của dân tộc khi hướng về một chủ đích đấu tranh giải phóng. Trong những trang bút tích c̣n để lại, Trương Tử Anh đă nhận xét rằng: "Mỗi nước trên thế giới đều có một hay nhiều dân tộc khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, có một tŕnh độ văn hóa khác nhau và phong tục, tập quán, tín ngưỡng hoàn toàn khác nhau. Một chủ nghĩa chính trị muốn được thành công tất phải căn cứ vào những yếu tố kể trên mới mong được dân chúng ủng hộ và có thể đem ra áp dụng được..." và anh khẳng định: "...Các chủ nghĩa đă xuất hiện trên thế giới đều không thích hợp với dân tộc ta..." (Nguyên văn bút tích năm 1936 của Đảng Trưởng Trương Tử Anh)). V́ thế anh Trương Tử Anh đă sáng tạo ra chủ thuyết dân tộc sinh tồn; một chủ thuyết tiến bộ, hoàn hảo áp dụng nguyên lư sinh tồn vào cuộc sống đại chúng, xây dựng khả năng, tạo lập sức mạnh, củng cố cộng đồng để mưu cầu sự sống c̣n và cường thịnh của Quốc Gia.

                Ngày 10 tháng 12 năm 1938 là thời điểm mở đầu đảng sử và là ngày chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn được công bố, đưa thuyết quốc gia vào con đường cao tột của ư niệm dân chủ và xă hội. Để thực hiện chủ thuyết và ước vọng cứu quốc, anh Trương Tử Anh đă khổ công hơn một năm trời chiêu mộ những bạn đồng chí để cùng thành lập ra một tổ chức cách mạng với danh xưng là đại việt quốc dân đảng. Cơ cấu Trung Ương đầu tiên gồm các đồng chí: Nguyễn Tiến Hỷ, Nguyễn Sĩ Dinh, Phạm Cảnh Hoàn, Trương Bá Hoành, Đặng Vũ Trứ, Nguyễn Sơn Hải, Tạ Thành Châm, Phan Bá Trọng, Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Định Quốc, Vơ Văn Hải, Nguyễn Văn Viễn, Đặng Xuân Tiếp, Giáo Lai, BS San. Một bản tuyên ngôn đă được soạn thảo và phổ biến theo lối chuyền tay dưới h́nh thức một tập sách luân lưu nội dung tŕnh bày bản sắc của dân tộc, với đoạn trích như "Những cảnh vinh nhục nối tiếp nhau biến hiện trên giải đất Đại Việt này, đă hun đúc dân ta thành một dân tộc già dặn, bền bỉ, đủ sức đối chọi với mọi cảnh ngộ. Lúc hưng thịnh th́ lên cao tuyệt vời mà lúc suy vi th́ vẫn giữ nguyên được cái bản sắc đặc biệt để cho khi cuộc quật khởi lại càng hùng mạnh hơn xưa.", hoặc nói lên trạng huống khốn khổ của Việt Nam dưới ách thực dân thống trị, như "Già nửa thế kỷ dưới quyền thống trị của đế quốc Pháp. Nước ta bị coi là một kho nguyên liệu, một thị trường tiêu thụ và một ḷ nhân công rẻ tiền. Họ vơ vét sạch các nguồn lợi, lại giam hăm dân tộc ta trong ṿng lạc hậu về văn minh, kỹ nghệ. Đến như nghề Nông là nghề căn bản của nền kinh tế quốc gia cũng hết đường phát triển, tŕnh độ phát triển của dân ta v́ thế càng ngày càng thấp kém." Bản Tuyên ngôn nêu ra những diễn biến về t́nh h́nh quốc tế thuận tiện cho một cuộc vùng dậy cởi ách ngoại xâm, đề cao những nét chính của chủ nghĩa và giải thích ư nghĩa danh xưng của Đảng: "Hai tiếng Đại Việt nêu cao cái ư chí tự cường, tự lập và cái hùng tâm muốn cho quốc gia mạnh mẽ lên và bành trướng măi ra. Ba chữ Quốc Dân Đảng tỏ rằng Đảng này không phải của riêng giới nào, mà là của toàn thể dân tộc." rồi sau đó đưa ra một chương tŕnh kiến thiết Tổ Quốc Đại Việt.

                Đảng kỳ là nền đỏ, ṿng tṛn xanh, ngôi sao trắng.

                Đảng ca là bài Cờ Sao Trắng.

                Một cuốn sách nhỏ thứ hai dành riêng cho đảng viên chỉ dẫn về cách tổ chức và phương pháp sinh hoạt của Đảng với đơn vị căn bản là chi bộ rồi lên đến khu bộ và cao hơn hết là Trung Ương Đảng. Phép tổ chức là của một Đảng cách mạng bí mật, nguyên tắc phân cách các đơn vị được ghi chú cẩn thận. Chức vụ lănh đạo cơ sở hạ tầng được luân phiên trao cho các đồng chí để mọi người trở nên thành thạo với đảng vụ. Kỷ luật Đảng trong thời đó rất cứng rắn, chấp nhận cả h́nh phạt tối đa là tử h́nh đối với những phần tử phản quốc và phản Đảng.