Giai đoạn 1975-1995

                                                * Xây dựng lại cơ sở đấu tranh.

                                                * Kiện toàn sức mạnh của Đảng,

                                                 phát huy tinh thần kế tục

                                                 truyền thống cách mạng.

                                                 

                Trong hai thập kỷ sau ngày Miền Nam sụp đổ, rất nhiều đồng chí của Đảng bị bắt qua các chiến dịch mệnh danh là "tập trung học tập cải tạo" hay trong các chiến dịch lùa bắt các văn nghệ sĩ và báo giới hoặc trí thức Miền Nam hoặc tấn công các tôn giáo, bị đày ải liên tục trong các nhà lao CS trên khắp ba miền đất nước như tại trại B́nh Điền, Phú Túc, Tiên Lănh, An Điềm, Củng Sơn, Xuân Phước, Thanh Cẩm, Nghệ Tĩnh, Gia Trung ở miền Trung, các trại Tây Ninh, Long Khánh, Thủ Đức, Bù Gia Mập, Suối Máu, Phan Đăng Lưu, Chí Ḥa của miền Nam hoặc tại các trại Nam Hà, Hà Tây, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Cổng Trời (Hà Giang), Vĩnh Phú, Tân Lập, Phú Sơn, Thanh Xuân v.v...của miền Bắc. Các đồng chí lúc sa cơ vẫn chứng tỏ bản lănh can trường, khí phách tuyệt vời và tinh thần chịu đựng bền bĩ trước kẻ thù, biết cưu mang đùm bọc nhau và chia sẻ với các anh em quốc gia khác trong cảnh khốn cùng (như trường hợp cố Đồng chí Hoàng Xuân Tửu, Tổng Ủy Viên Thường Vụ của Đảng, đă chết trong trại tù CS năm 1980, là một thí dụ điển h́nh về đức tính hy sinh, nhẫn nhục và ḷng thương người) đồng thời hướng vọng ra bên ngoài với niềm tin cách mạng không hề suy xuyển. Với những anh chị em cán bộ, đảng viên ở ngoài ṿng kiềm tỏa của Cộng Sản mà c̣n hiện diện trong nước sau ngày 30-4-75, một số đă công khai bày tỏ dũng khí của những con người đấu tranh cách mạng mà kiệt hiệt nhất phải kể là cuộc khởi nghĩa năm Mậu Ngọ (1978) của các đồng chí Phan Ngọc Lương, Bí Thư Quân Ủy Quân Khu I, Trần Ngọc Qườn (Giáo Sư Trường Trung Học Kiểu Mẫu thuộc Đại Học Sư Phạm Huế), Phạm Lự, Tống Châu Khang cùng nhiều anh chị em cơ sở Đại Việt Cách Mạng Đảng tại Huế và Thừa Thiên. Đây là một kế hoạch khởi nghĩa có tính cách quy mô mà kết quả là 8 đồng chí bị án tử h́nh, 7 đồng chí bị án tù chung thân và vài chục đồng chí khác bị án tù từ 3 năm đến 20 năm tù ở. Con số người bị Việt Cộng bắt để điều tra lên đến hàng ngàn người trong phạm vi Tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế. Vụ khởi nghĩa Mậu Ngọ (1978) c̣n được đồng bào gọi là vụ Phạm Lự - Tống Châu Khang v́ hai đồng chí này là những người đứng ra chủ xướng vụ khởi nghĩa, c̣n người đứng trong bóng tối chỉ huy tất cả là đồng chí Phan Ngọc Lương. Đồng chí Phan Ngọc Lương nguyên là Trung Tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, xuất thân Khóa 17 Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh hùng giải tỏa Huế trong vụ Tết Mậu Thân (1968), được tặng huy chương "Ngôi Sao Bạc" của Quốc Hội Hoa Kỳ. Sau một trận đánh ác liệt ở Quảng Nam, đồng chí Phan Ngọc Lương bị cụt cả hai chân đến tận háng, và đă được đưa qua Hoa Kỳ làm lại đôi chân giả sau hai năm điều trị ở bệnh viện Walter Reed của Quân đội Hoa Kỳ, thuộc vùng phụ cận của Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Trước khi đồng chí Phan Ngọc Lương lên đường qua Hoa Kỳ điều trị thương tích, Đồng Chí Chủ Tịch Đảng Hà Thúc Kư có vào bệnh viện dă chiến của Quân đội Hoa Kỳ tại đường Cách Mạng, Sàig̣n để thăm và luôn tiện tiễn đưa đồng chí lên đường, đồng chí Lương đă cầm tay đồng chí Chủ Tịch Đảng và nói rất dơng dạc: "Em xin hứa với Anh Cả là sau khi em trở lại quê nhà, em sẽ luôn luôn cố gắng chu toàn sứ mệnh 'diệt Cộng cứu nước' mà Anh đă giao phó cho em trong buổi lễ tấn phong em giữ chức vụ Bí Thư Quân Ủy Quân Khu I độ nào". Và đồng chí Lương đă giữ đúng lời hứa đó.

                Cuối năm 1978, Việt Cộng đă thiết lập ṭa án quân sự để xét xử vụ âm mưu khởi nghĩa Mậu Ngọ tại trụ sở Trường Đại Học Sư Phạm Huế, nơi đồng chí Trần Ngọc Quờn tốt nghiệp và dạy học. Các đồng chí Phan Ngọc Lương, Phạm Lự, Tống Châu Khang, Trần Ngọc Quờn và các anh chị em khác đều rất khí phách, hiên ngang khi ra trước ṭa án. Đặc biệt là đồng chí Phan Ngọc Lương đă vạch tội bọn Cộng Sản đối với dân tộc và dơng dạc tuyên bố "Cộng Sản là kẻ thù của Đại Việt nói riêng và của nhân dân Việt Nam nói chung." Cuối cùng Việt Cộng tuyên án tử h́nh các đồng chí Phan Ngọc Lương, Phạm Lự, Tống Châu Khang, Trần Ngọc Quờn, Huỳnh Lai, Nguyễn Ngọc Con, Phan Thiên Linh. Riêng nữ đồng chí Bùi Thị Cặn, người đặt chất nổ tại pḥng Thông Tin Văn Hóa Huế th́ đă cắn lưỡi tự tử tại lao xá Thừa Thiên để khỏi phải khai tên các đồng chí khi bị lũ công an Việt Cộng tra tấn dă man.

                Ngoài ra, sự có mặt của một bộ phận đầu năo của Đảng trong đó có đồng chí Chủ Tịch Đảng Hà Thúc Kư ở hải ngoại là yếu tố cơ bản để anh chị em đồng chí trong nước giữ vững niềm tin đồng thời cũng là nỗi lo lắng của Cộng Sản về một địch thủ đáng quan tâm trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Đảng đă có mặt tiên phong trong các cuộc vận động cho nhân quyền từ Hoa Thịnh Đốn đến Paris, Anh Quốc, Châu Âu, Nhật Bản, Thái Lan v.v..., dưới nhiều h́nh thức đấu tranh có tính cách ngoại vi như Mặt Trận Việt Nam Tự Do mà mục đích là đào tạo các hạt nhân cách mạng, kết nạp thêm đồng chí, tuyên truyền lư tưởng Quốc Gia, tổ chức các thành phần thanh niên, trí thức trong các cơ sở ngoại vi của Đảng với mục đích trẻ trung hóa guồng máy lănh đạo Đảng và để chuẩn bị thế đấu tranh cho các thành phần lănh đạo các cơ sở Đảng c̣n ở trong nước hay đang t́m ra hải ngoại.

                Từ năm 1978 trở đi ở Hoa Kỳ đă có những hoạt động lẻ tẻ nhằm thăm ḍ xúc tiến việc thống nhất Đại Việt Quốc Dân Đảng và ngày 28-5-1988 đă có một cuộc họp giữa các đồng chí lănh đạo cao cấp như các đồng chí Hà Thúc Kư, Bùi Diễm, Nguyễn Ngọc Huy, Đặng Văn Sung, Cung Đ́nh Quỳ, Nguyễn Tôn Hoàn để quyết định từng bước thống nhất Đại Việt. Các nỗ lực trong thời gian sau đó, cụ thể là các cuộc họp trong năm 1993, công tác truyền thông như sự ra đời của Tạp Chí Đại Việt với các cây bút ṇng cốt là các đồng chí Đại Việt Cách Mạng Đảng cũng không soi sáng triển vọng tốt đẹp cho sự kết hợp Đại Việt v́ nhiều khác biệt do lịch sử tạo nên.

                Kể từ năm 1990, các cán bộ của Đảng đă ra đi trong các diện vượt biên, đoàn tụ gia đ́nh hay tị nạn chính trị (cựu tù nhân chính trị) đă lần lượt móc nối lại với Trung Ương ở Hoa Kỳ để rồi dần dần tổ chức lại các cơ sở Đảng theo từng địa phương cư ngụ. Đồng chí Hà Thúc Kư liên tục đi khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, sang Âu Châu nỗ lực xây dựng thêm nhiều cơ sở mới cùng sự phối hợp công tác của nhiều anh em đồng chí cũ.

                Đầu năm 1995, do những khác biệt trong đường lối làm việc nên Đại Việt Cách Mạng Đảng đă chấm dứt sự cộng tác với Tân Đại Việt qua tổ chức Đại Việt Quốc Dân Đảng tái h́nh thành trong giai đoạn 1993-1994.

                Ngày 30-4-1995, Tạp Chí Cách Mạng số 1 ra đời, diễn đàn dân chủ của Đảng, nhằm nói lên lập trường và quan điểm đấu tranh chính nghĩa của người quốc gia, chuẩn bị cho sinh hoạt mới của Đảng. Ngày 28-5-1995, trong Hội Nghị Trù Bị tổ chức tại Virginia, Hoa Kỳ, Trung Ương Đảng đă thảo luận việc tổ chức Đại Hội Toàn Đảng Kỳ III vào dịp Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) năm 1995 của Hoa Kỳ tại thành phố Houston, Texas. Sau hội nghị này, Nội San Sinh Tồn do Tổng Bộ Thường Vụ thực hiện cũng đă được ấn hành nhằm phản ảnh các sinh hoạt nội bộ của Đảng.

                Trong hai ngày 24 và 25 tháng 11 năm 1995, hơn một trăm đồng chí đại biểu cho các cơ sở khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, các quốc gia Âu Châu, đă về tham dự Đại Hội Toàn Đảng Kỳ III tổ chức tại khách sạn Plazza Inn nằm về hướng bắc thành phố Houston.

                Trong thời gian tiền Đại Hội, ngày 23-11-95, các Đại Biểu đă duyệt xét chương tŕnh nghị sự và các đề án công tác cần thảo luận góp ư. Trong hai ngày kế tiếp các Đại Biểu đă hoàn thành các công tác như sau:

                1.- Suy cử Đồng Chí Hà Thúc Kư trong chức vụ Chủ Tịch Đại Việt Cách Mạng Đảng.

                2.- Đ/c Chủ Tịch Đảng thông báo trước Đại Hội về việc mời Đ/c Bùi Diễm trong Chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Và Giám Sát Trung Ương cùng một số Đ/c cao niên trong các chức vụ Ủy viên.

                3.- Đ/c Chủ Tịch Đảng đề cử một danh sách Ban Chấp Hành Trung Ương nhiệm kỳ 1995-1999 và Đại Hội đă biểu quyết chấp thuận.

                4.- Thảo luận và thông qua Đảng Quy, Cương Lĩnh, Tuyên Cáo Báo Chí; đề cử Ban Chấp Hành Trung Ương nhiệm kỳ 1995-1999, Hội Đồng Cố Vấn và Giám Sát Trung Ương; duyệt định một số đề án công tác liên quan đến việc phát triển cơ sở, xây dựng cộng đồng, công tác tài chánh, giới trẻ, quốc nội v.v...               

                Sự có mặt của ba thế hệ đảng viên trong Đảng gồm các đồng chí tiền bối lăo thành trong giai đoạn 1939-1945, bên cạnh các đồng chí trung niên giai đoạn 1965-1975 cùng các đồng chí trẻ trong giai đoạn 1985-1995 chứng tỏ truyền thống cách mạng của Đảng được tiếp nối liên tục từ những bậc đàn anh đi trước đến các tầng lớp con em theo sau trong chủ đích xây dựng một nước Việt Nam Nhân Bản, Dân Chủ và Thịnh Vượng theo tinh thần cách mạng của ngọn đuốc Trương Tử Anh và chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn bất diệt.

                Sự nghiệp lớn lao đó đ̣i hỏi nhiều hy sinh và nỗ lực tối đa của mọi tầng lớp cán bộ, đảng viên Đại Việt trong giai đoạn lịch sử mới.