Giai đoạn 1952-1963

                                                 * Tranh thủ độc lập cho Quốc gia

                                                * Vận động Đoàn kết

                                                * Xây dựng Tự Do, tranh đấu Dân Chủ cho đất nước

                Trong giai đoạn này, Trung Ương Đảng đă được củng cố nên một mặt Đảng tiếp tục bành trướng cơ sở, mặt khác hoạt động mạnh mẽ về chiến dịch ngoại giao và chính trị; các nhật báo, tuần báo do Đảng xuất bản như Tự Quyết, Đuốc Việt, Thanh Niên v.v... đă vang bóng môĩt thời trên công luận.

                Đảng c̣n mở những cuộc tiếp xúc với các giới chính trị trong và ngoài nước để cổ vơ sự đ̣i hỏi độc lập dân chủ cho Việt Nam. Đảng quan niệm rằng chỉ khi nào người Việt Nam được quyền tự quyết và tự đảm nhận cuộc đấu tranh chống Cộng th́ cuộc đấu tranh ấy mới có ư nghĩa và mới thắng lợi.

                Trong hai năm 1953 và 1954, Đảng đă đạt nhiều kết quả quan trọng:

                1.- Tham dự Đại Hội toàn quốc và vận dụng Đại Hội đ̣i Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, làm đổ vỡ các mưu tính thâm độc của người Pháp.

                2.- Vận động và thành công trong việc thành lập Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hoà B́nh do các đồng chí Nguyễn Tôn Hoàn, Hà Thúc Kư phối hợp với ông Ngô Đ́nh Nhu, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Trần Văn Lư và rất nhiều các chính khách, nhân sĩ nổi tiếng chủ trương đ̣i Pháp trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam, kêu gọi Quốc Trưởng Bảo Đại phải dân chủ hóa chế độ và thành lập chính phủ đoàn kết quốc gia, để chuẩn bị cho ông Ngô Đ́nh Diệm về nước chấp chánh.

                3.- Đánh ngă, đánh quỵ các trào đấu tranh bạo động của Cộng Sản tại các tỉnh tiền tuyến sau khi hiệp ước Genève vừa kư kết.

                Tuy nhiên vận nước c̣n nhiều đen tối. Khi quốc thổ bị chia đôi, miền Bắc vĩ tuyến 17 hoàn toàn lọt vào tay Cộng Sản th́ Miền Nam lại khởi đầu bước đi trên con đường đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ.

                Cuối năm 1954, Đảng là một trong những lực lượng đầu tiên nhận thức khuynh hướng tập quyền của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa sắp được khai sinh và Đảng đă sớm phát động chiến dịch cảnh giác với công luận về khuynh hướng đó đang đi ngược lại với nền tự do dân chủ mà thế giới loài người đang khao khát.

                Từ đầu năm 1955, Đồng chí Hà Thúc Kư, đă huy động bộ phận quân sự Đảng tại Quảng Trị thành lập chiến khu Ba Ḷng (30 cây số tây bắc Quảng Trị) nơi ải địa đầu giới tuyến, với kinh phí do Xứ Bộ Nam Việt đài thọ, khi mà chính quyền miền Nam đi trái với những ước nguyện tha thiết của người dân, phản bội lại những cam kết xây dựng dân chủ và đoàn kết với các lực lượng chính trị quốc gia. Để thực hiện kế hoạch đó, tháng 2-1955, Đồng Chí Trần Điền (sau này là Nghị Sĩ trong Thượng Nghị Viện VNCH, bị VC giết trong vụ Mậu Thân tại Huế 1968), Tỉnh Trưởng Quảng Trị, đă kư Sự vụ lệnh cử Đại úy Nguyễn Ngọc Cứ tức Đồng chí Hải làm Tiểu đoàn trưởng kiêm Quận trưởng Ba Ḷng lo việc tiếp thu quận này từ vùng đất của Việt Minh. Tiểu đoàn 610 Khinh Quân của Thiếu Tá Phạm Văn Bôn, Lực lượng đặc biệt mũ đỏ của Đệ II Quân khu do Đại Úy Phạm Văn Đồng (tức Đồng đen) chỉ huy, Tiểu đoàn của Thiếu Tá Hoàng Văn Hiền cũng được huy động về Ba Ḷng. Với gần hai ngàn đồng chí vơ trang, chiến khu Ba Ḷng chứng tỏ sức sống mănh liệt của một đoàn thể cách mạng. Tiếng nói của chiến khu, công tŕnh kỹ thuật của đồng chí Michele Nguyễn Văn Bính và sự vận chuyển ráp nối vật dụng của đồng chí Tôn Thất Tế thuộc Xứ Bộ Trung Việt, đă vang dội khắp nơi qua đài phát thanh bí mật của Đại Việt được phát đi đều đặn hàng ngày. Đồng chí Hà Thúc Kư lănh đạo cuộc đấu tranh vơ trang nầy với tư cách Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Cách Mạng Đại Việt; phụ tá về chính trị có đồng chí Hoàng Thanh tức Hoàng Xuân Tửu (sau này là Nghị Sĩ, Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện VNCH, chết trong trại giam Nam Hà của CS ngày 5-10-1980) và phụ tá về quân sự có đồng chí Trần B́nh tức Nguyễn Trung Thành tốt nghiệp trường sĩ quan Hoàng Phố, do Xứ Bộ Nam Việt điều động ra chiến khu.

                Trong những tuần lễ đầu anh em đồng chí đă mở những cuộc hành quân khai quật các hầm vơ khí và tảo thanh các lực lượng Việt Minh gài lại trong vùng. Tư lệnh Quân Khu II là Đại Tá Nguyễn Quang Hoành được chính quyền Trung Ương ra lệnh đem quân tiến đánh Ba Ḷng nhưng ông này phản kháng và nói: "Quân đội Quốc Gia chỉ hành quân tiêu diệt Cộng Sản, c̣n để đánh người Quốc Gia th́ tôi không đánh." Cuối tháng 2-1955, từ Ba Ḷng, hai bộ phận cốt cán của Đảng được gởi đi để nghiên cứu và chiêu tập thêm hai chiến khu khác ở vùng núi Thừa Thiên và Di linh để gây thế tam giác, nhưng công tác đang vận động xúc tiến th́ chính quyền đương thời đă huy động toàn binh lực đánh phá vào chiến khu Ba Ḷng và đồng loạt mở trào khủng bố các cơ sở Đảng ở khắp nơi. Các lực lượng quân sự của chính quyền từ Quảng B́nh rút vào phối hợp với lực lượng ở Huế ra trong đó có Tiểu Đoàn 13 là mũi nhọn xung kích tấn công vào chiến khu khiến Tiểu Đoàn Trưởng là Đại úy Em và hai sĩ quan khác bị bắn trọng thương.

                Cuộc chiến đấu của Đảng tại Ba Ḷng kéo dài hàng tháng; quân đội Đại Việt đă thắng nhiều trận lớn như trận chiến ở Bến Than, Trấm, Cùa v.v... nhưng cuối cùng v́ đường tiếp tế bị phong tỏa, thiếu lương thực, đồng chí Trần B́nh bị mất tích trong một cuộc hành quân về hướng Tây của chiến khu để loại trừ Cộng Sản, các đồng chí lănh đạo về chính trị và quân sự như Hoàng Xuân Tửu, Nguyễn Ngọc Cứ, Hoàng Văn Hiền, Nguyễn Văn Lư v.v... bị bắt dần th́ lực lượng quân sự của Đảng tại đây mới lui vào thế bí mật.

                Trong các ngày 24, 25-10-1957, Ṭa án Quân sự Huế do Chánh Án là Lê Khắc Hy, Công Tố Viên là Nguyễn Ngọc Bích đă đưa ra xét xử vụ án Ba Ḷng.

                Các đồng chí Hà Thúc Kư, Trần B́nh, Phạm Văn Bôn, Phạm Văn Đồng (đều vắng mặt): Chung thân khổ sai.

                Nguyễn Văn Lư: 15 năm khổ sai.

                Hoàng Văn Hiền: 10 năm khổ sai

                Nguyễn Ngọc Cứ: 10 năm khổ sai.

                Hoàng Xuân Tửu: 6 năm tù ở.

                Nguyễn Văn Mân: 5 năm tù ở.

Các người bị truy tố khác đều bị án tối thiểu 2 năm tù ở và tất cả mang tội danh: Xâm phạm an ninh quốc gia.

                Trước đó Đồng chí Hà Thúc Kư đă được các cơ sở t́nh báo của Đảng hộ tống vượt trùng vây vào Saig̣n, móc nối củng cố lại cơ sở, hoạt động chống đối bí mật và điều khiển đài phát thanh lưu động của Đảng cũng do công tŕnh thiết kế của đồng chí Michele Nguyễn Văn Bính, cho tới tháng 10 năm 1958 th́ bị mật vụ bao vây bắt giam và tuyên án khổ sai chung thân. Gia đ́nh đồng chí cũng bị bắt giữ tại trại giam Pḥng 42 Sở Thú Sàig̣n.

                Trong thời gian phát khởi chiến khu Ba Ḷng, các đồng chí lănh đạo Xứ Bộ Nam Việt như Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Thông Thảo, Nguyễn Ngọc Huy lần lượt bị buộc phải trục xuất sang Pháp; các đồng chí Nguyễn Ngọc Tân, Dương Văn Liện, Nguyễn Văn Đạt lưu vong sang Căm-pu-chia; Lê Văn Hiệp (Già Hiệp), Ung Ngọc Nghĩa lưu vong sang Lào. Cụ Trương Bội Hoàng, thân sinh Đảng Trưởng bị bắt ở Dran (Đa Lạt), giải giao về Phú Yên. Rất nhiều đồng chí bị bắt giam tại lao Thừa Phủ (Huế), Trung Tâm Suối Máu (Biên Ḥa), Thủ Đức, Phú Lợi...trong đó có các đồng chí Đoàn Thái, Hà Thúc Kỷ, Lê Phùng Thời, Trần Việt Sơn tức Trần Ngọc Lập (Thái Mù), Minh Nhật Trương Dụng Khả, Việt Huy Nguyễn Đ́nh Huy v.v...

                Trước những đổ vỡ trầm trọng đó đă không làm nao núng tinh thần kiên tŕ của anh em đảng viên, các cơ sở c̣n lại trong bí mật của Đảng vẫn tiếp tục bành trướng, anh em đều đồng ḷng chấp nhận gian nguy, tiếp tục các hoạt động cách mạng và sẵn sàng chịu đựng các cuộc bắt bớ tù đày.

                Cũng trong giai đoạn này, sự di chuyển phần lớn các bộ phận của Đảng từ Bắc Việt vào Nam trong cuộc di cư từ năm 1954 đă khiến cho những bộ phận cách mạng đó thêm đất mới và hoàn cảnh mới để hoạt động. Song song c̣n có các đồng chí ở Trung vào Nam hoạt động và phát triển được nhiều cơ sở mới cho Đảng đặc biệt là các đồng chí thuộc Tỉnh Bộ Thừa Thiên và Phú Yên, tạo nên một sự ḥa đồng giữa các phần tử của Đảng dù có nguồn gốc địa phương khác nhau, và tất cả lại không hề phân biệt tôn giáo, không hề phân biệt sắc dân, nhất tâm nhất trí xây dựng Đảng và đấu tranh cho quyền lợi chung của Tổ Quốc. Sự kiện đó đủ tạo cho Đảng một uy thế đặc biệt, hiện thân của sự thuần nhất về mọi phương diện trong khi đất nước bị chia rẽ, bị phân hóa bởi nhiều nguyên nhân.