Giai đoạn 1945-1951

                                                * Lập thế Quốc Gia

                                                * Chiến đấu trong khó khăn nhưng kiêu hùng với lư tưởng.                                                      

                Trong thời gian chính phủ của học giả Trần Trọng Kim nắm quyền, Đảng Trưởng đă cử đ/c Bùi Diễm liên lạc để thiết lập sự yểm trợ lẫn nhau và cụ Trần Trọng Kim đă t́m thấy nơi Đảng Trưởng một con người dễ ḥa hợp và là đồng minh có thể tin cậy được.

                Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15-8-1945, nội các Trần Trọng Kim đổ sau mấy tháng nỗ lực làm việc bằng tinh thần và thiện chí của những tấm ḷng quốc gia chân chính. Ngày 19-8-1945, Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội và dần dần trong cả nước. Những nguyên nhân làm cho họ thắng lợi là nhờ ở thủ đoạn xảo quyệt của họ trong việc che dấu lư lịch Cộng Sản, đàng khác nhờ sự trợ giúp của người Pháp cho họ được tự do hoạt động từ các năm về trước, sự đánh lừa lực lượng Đồng Minh chủ yếu là người Mỹ trong những ngày trước khi Nhật Bản đầu hàng và sự toa rập giữa Pháp và Việt Minh để đàn áp và cầm chân Đại Việt trong mấy năm liền.

                Khi đất nước khởi sự lọt vào tay Cộng Sản, Đảng lập tức huy động lực lượng để tạo lập một thế Quốc Gia chân chính với mục đích phản công Cộng Sản và xây dựng một chính phủ kháng chiến quốc gia có đường lối ngoại giao thích hợp để được sự ủng hộ của thế giới tự do.

                Trong thời kỳ từ đầu năm 1945 đến tháng 7, 1946, Đảng đă nỗ lực thực hiện các công tác đảng vụ có tính cách lịch sử như sau.

                Về phương diện quân sự, với số lượng đồng chí trẻ tuổi hăng say gia nhập Đảng ngày càng đông, Đảng phải áp dụng lối huấn luyện ồ ạt và cấp bách. Quan trọng nhất là Đảng đă thành lập Trường Lục Quân Yên Bái hay Đại Việt Lục Quân Sĩ Quan Học Hiệu do một Đại Tá Nhật Bản tên ông Hùng hay San Hùng làm Hiệu Trưởng để thu nhận hết các sinh viên sĩ quan của Mặt Trận Quốc Dân Đảng gồm cả Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Dân Chính, kể cả Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, với chương tŕnh học trong 6 tháng, do các sĩ quan người Nhật dạy. Con số sinh viên lên khoảng 500 người trong hai năm 1945-46. Ngoài ra Đảng cũng c̣n tổ chức Trường Sĩ Quan Lạc Triệu do Đ/c Triệu Giang tức Phạm Cao Hùng, một sĩ quan tốt nghiệp Trường Hoàng Phố, đă từng phục vụ trong quân đội Trung Hoa Dân Quốc hàm Trung Tá, do Đảng Trưởng cử làm Tổng Tư Lệnh Chiến Khu Lạc Triệu kiêm chỉ huy trưởng trường này. Một trung tâm huấn luyện dành cho hạ sĩ quan và binh sĩ cũng đóng ở Lạc Triệu do Đ/c Đội Vấn và Đ/c Vũ Đ́nh Huyên phụ trách.

                Về phương diện chính trị, tháng 5-1945, tại Trùng Khánh, đại diện của Đại Việt Quốc Dân Đảng gồm các đồng chí Nguyễn Tiến Hỷ, Đặng Vũ Trứ, Phạm Cảnh Hoàn, Nguyễn Định Quốc, Nguyễn Sĩ Dinh, Phan Bá Trọng, Vơ Văn Hải cùng đại diện VNQDĐ gồm các ông Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Quang Phẩm và đại diện Đại Việt Dân Chính, Nguyễn Tường Tam, đă cố gắng làm một cuộc kết hợp các lực lượng chính trị quốc gia để hành động chung khi hữu sự.

                Ngày 15-12-1945, do nhu cầu của t́nh thế cực kỳ nghiêm trọng phải công khai đối chọi với Việt Minh, các chính đảng kể trên đă thống nhất thành một lực lượng gọi tên là Mặt Trận Quốc Dân Đảng với thành phần như sau:

                - Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Dân Đảng : Trương Tử Anh (ĐVQDĐ)

                - Tổng Thư Kư: Vũ Hồng Khanh (VNQDĐ)

                - Các Ủy viên: Xuân Tùng (VNQDĐ), Nguyễn Tường Long (ĐVDCĐ), Phạm Khải Hoàn (ĐVQDĐ).

                - Bí Thư Trưởng : Nguyễn Tường Tam (ĐVDCĐ)

                - Các Ủy viên: Nguyễn Tường Bách (ĐVDCĐ), Chu Bá Phượng (VNQDĐ), Nguyễn Văn Chấn (VNQDĐ), Vũ Đ́nh Trí (VNQDĐ), Nghiêm Kế Tổ (VNQDĐ), Phạm Văn Hể (VNQDĐ), Phạm Ngọc Chi (ĐVQDĐ), Nguyễn Tiến Hỷ (ĐVQDĐ).

                Cờ của Mặt Trận là nền đỏ, ṿng xanh, sao trắng tức đảng kỳ của ĐVQDĐ và chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn đă được các thành viên Mặt Trận chấp nhận làm ư thức hệ để chống lại với chủ nghĩa Cộng Sản. Đảng Ca cũng là bài Cờ Sao Trắng của Đại Việt Quốc Dân Đảng.

                Mặt Trận Quốc Dân Đảng c̣n có một bộ phận bí mật gọi tên là Tối Cao Bí Mật chỉ huy gồm có: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam.

                Trụ sở công khai của Mặt Trận đặt tại trường Tiểu học Đỗ Hữu Vị, Hà Nội.

                Các cơ quan ngôn luận của Mặt Trận Quốc Dân Đảng gồm có: Tại Hà Nội có tờ Việt Nam, Đồng Minh, Chính Nghĩa (Tuần báo), Đuốc Việt, Thanh Niên, Sao Trắng.

                Mặt Trận Quốc Dân Đảng đă công khai vạch trần các âm mưu xảo quyệt của Việt Minh Cộng Sản trước dư luận quần chúng và thế giới và đă hoạt động rất hữu hiệu tại hầu hết các tỉnh Bắc Việt vào cho tới Quảng Nam, Quảng Ngải. Nhiều cuộc xung đột vũ trang, tuyên truyền đă xảy ra giữa Mặt Trận Quốc Dân Đảng với lực lượng công an của Việt Minh.

                Về sau, sự kiện thống nhất này bị phá vỡ với nhiều ư kiến bất đồng khi anh em chiến hữu Việt Quốc do áp lực của Trung Hoa Dân Quốc đă tham gia chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh và kư hiệp ước sơ bộ 6-3-1946. Từ đó Đảng đơn phương ở thế trực diện chống Cộng.

                Trong năm 1945, các đồng chí Phạm Cao Hùng, Nguyễn Tấn Thành, Phạm Đăng Cảnh và Trần Văn Xuân nhận chỉ thị của Đảng Trưởng vào Nam tổ chức cơ sở, thành lập chiến khu B́nh Thung (Chợ Lớn, Thủ Thiêm, Thủ Đức). Anh em đă kết nạp được một số nhân vật nổi tiếng như các ông Phan Khắc Sửu, Nguyễn Ḥa Hiệp và các anh em hảo hán như Ba Dương, Tư Tỵ (B́nh Xuyên), thành lập Đệ Tam Sư Đoàn (Chỉ Huy Trưởng là Nguyễn Ḥa Hiệp) và Bộ Đội An Điền do anh Bùi Hữu Phiệt chỉ huy lập được nhiều chiến công hiển hách.

                Đến giai đoạn chống đối quyết liệt với Cộng Sản, Đảng đă phải nêu cao ngọn cờ kháng chiến, vơ trang cho anh em đồng chí, tập họp thành lập nhiều chiến khu pḥng thủ xem như những căn cứ, đẩy tung mạnh hoạt động ra quần chúng ở thành thị cũng như ở nông thôn như chiến khu Kép thuộc tỉnh Bắc Giang có quốc lộ 1 và thiết lộ từ Lạng sơn về Hà Nội, do đ/c Vũ Đ́nh Huyên chỉ huy, chiến khu Di Linh thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa do đ/c Trần Hồ lănh đạo và ở khắp các khu vực miền Trung-du và Thượng-du Bắc Việt đều có đặt các cứ điểm của Đảng.

                Tại Hà Nội, nơi Việt Minh đặt chính quyền Trung Ương, Đảng đă hoạt động tích cực hơn hết để chuẩn bị việc lật đổ cơ sở đầu năo Cộng Sản, kế hoạch là tấn công liên tiếp về chính trị và cướp chính quyền từng khu vực.

                Nhưng một lần nữa Đại Việt đă vấp phải trở lực lớn lao, sự liên minh bỉ ổi giữa Việt Minh với Pháp. Với hiệp ước Sơ bộ 6-3-1946, Cộng Sản đă rước quân Pháp đổ bộ lên Bắc Việt, gây thế ỷ dốc cho chúng trong hành động tiêu diệt Đại Việt và các đoàn thể quốc gia khác. Ngày 12-7-46, Cộng Sản ngụy tạo vụ Ôn Như Hầu (Hà Nội) vu cáo cho Quốc Dân Đảng lập hắc điếm để thủ tiêu dân lành và sau đó dàn dựng vụ cầu Chiêm Sơn (Quảng Nam) là QDĐ tại đây cố ư phá cầu sắt hỏa xa cướp vơ khí trong chiến dịch Nam Tiến để lấy cớ thanh toán các thành viên của Mặt Trận Quốc Dân Đảng. Việt Minh với sự hỗ trợ của quân đội Pháp đă tấn công vào các chiến khu của Đại Việt khiến một phần lực lượng của Đảng bị tử trận, một phần rút sang Tàu, phần c̣n lại trong nước phải phân tán mỏng và lui về thế bí mật.

                Các biến cố xảy ra mà hậu quả là Đảng bị thực dân Pháp và Việt Minh Cộng Sản đàn áp đă chứng tỏ rằng con đường cách mạng quốc gia do Đảng chủ xướng là con đường duy nhất để cứu nước nên những kẻ thù của dân tộc phải cấu kết nhau lại để đối phó với Đảng.

                Sau khi các chiến khu của Đảng bị phá vỡ th́ các lực lượng quốc gia không c̣n là mối nguy cơ cho Thực-Cộng nữa, nên Việt Minh và Pháp trở lại mâu thuẫn nhau, và Việt Minh đă tấn công Pháp vào tối 19-12-1946 để rồi chiến tranh xảy ra toàn diện. Chiều ngày 19-12-1946, một số anh em đồng chí được sinh hoạt với Đảng Trưởng Trương Tử Anh lần cuối, và sau đó anh mất tích vĩnh viễn. Báo chí Cộng Sản cách đây hơn 10 năm (năm 1987) có đề cập đến việc Sở công an Bắc Việt hồi cuối năm 1946 có bắt giữ Đảng Trưởng Trương Tử Anh và giam tại xà lim Hỏa Ḷ Hà Nội rồi thủ tiêu anh sau đó. Ngày Đảng Trưởng Trương Tử Anh mất tích là ngày khởi đầu cho cơn quốc loạn bi thảm; tinh thần của sinh viên cách mạng Trương Tử Anh và chủ nghĩa do anh sáng tạo vẫn c̣n măi trong ḷng các đảng viên Đại Việt và c̣n măi trong lịch sử dân tộc.

                Lịch sử phải ghi nhận rằng Đảng không hề lùi bước trước gian nguy và cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng luôn luôn được nối tiếp kiêu hùng. Sau ngày Đảng Trưởng mất tích, các cơ sở của Đảng vẫn tiếp tục hoạt động giữa khói lửa, trong giai đoạn này thanh thế của Đảng bành trướng mạnh ở miền Nam và miền Trung.

                Tại miền Trung dưới sự lănh đạo của Xứ Ủy Trưởng là Bác Sĩ Bửu Hiệp và phụ tá là đồng chí Hà Thúc Kư, các bộ phận của Đảng sinh hoạt rất chặt chẽ, phần th́ tham gia kháng chiến chống Pháp vừa gây thế chống Cộng trong hàng ngũ kháng chiến; phần th́ Đảng cho cán bộ len lỏi ở vùng bị chiếm để tổ chức cơ sở. Mặc dầu trong thế bí mật nhưng cuối năm 1946 v́ các cuộc vận động cướp chính quyền của Đảng tại các tỉnh miền Trung (dưới quyền kiểm soát của Việt Minh Cộng Sản) bị tiết lộ nên có hàng ngàn đồng chí đảng viên Đại Việt bị bắt giam tại các nhà lao Ba Tơ (Quảng Ngải) và Bến Hới, Trại Đưng (Nghệ An), trong số có gần 90% bị Cộng Sản thủ tiêu.

                Tại miền Bắc, sau khi anh em đồng chí thất tán các nơi, Bác sĩ Đặng Vũ Lạc lại đứng lên tập họp số c̣n lại ở Hà Nội, đă đánh nước cờ với giải pháp Bảo Đại nhưng đa số các bộ phận của Đảng tại các tỉnh Bắc Việt đều đứng ngoài lề thời cuộc để chờ quyết định mới và chính thức của Đảng. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc tốt nghiệp Y khoa tại Pháp, có dưỡng đường tại Hà Nội là một bệnh viện tư lớn có tiếng lúc bấy giờ. Ông quê làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định cùng chung thủy tổ với Trường Chinh (Đặng Xuân Khu). Con của BS Đặng Vũ Lạc là Đặng Vũ Trứ là một cán bộ cao cấp của Đảng sinh hoạt với Đảng Trưởng Trương Tử Anh, từng có những cống hiến lớn lao cho cách mạng. Đ/c Đặng Vũ Trứ bị CS bắt cóc ở Hà Nội để làm áp lực với BS Đặng Vũ Lạc nhưng không được nên chúng thủ tiêu ở Phú Thọ năm 1947. Trường Chinh cũng cho lệnh thủ tiêu 7 người thanh niên trí thức trong ḍng tộc Đặng Vũ. Khi Đảng mới thành lập, BS Đặng Vũ Lạc đă giúp đỡ mua vũ khí đạn dược trang bị cho anh em, đă cưu mang rất nhiều anh em đồng chí trong những thời kỳ khó khăn. Sự hy sinh và uy tín của ông làm cho anh em cảm phục và chấp nhận sự chỉ huy của ông sau khi Đảng Trưởng thất tung. Tháng 10-1948, Bs Đặng Vũ Lạc mất v́ bệnh lao.

                Tại Nam Việt, năm 1947 Đảng thành lập công khai một tổ chức ngoại vi có tên Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn, do đồng chí Đỗ Văn Năng lănh đạo và thu hút được sự hưởng ứng đông đảo của đồng bào các giới ở Saig̣n. Đ/c Đỗ Văn Năng gốc Chợ Lách, Vĩnh Long, có tân học lại giỏi vơ nghệ có chân trong Đảng S.F.I.O tức Đảng Xă Hội Pháp. Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân cũng thuộc đảng này nên đă cấp giấy phép cho Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn hoạt động. Đoàn kỳ là nền vàng ba ngôi sao xanh ở góc trái. Tổ chức này bành trướng mạnh trong các tỉnh Nam Việt và đến năm 1949 phát triển trong cả nước. Sau khi Đ/c Đỗ Văn Năng bị CS ám sát vào tháng 10-1950, tổ chức này do đ/c Trần Văn Xuân (Xuân Râu) lănh đạo.

                Tại Bắc Việt, Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn do đ/c Vương Hữu Đức (tức Đặng Đ́nh Tích) làm Thủ lănh có trụ sở tại số 48 phố Hàng Ngang Hà Nội và cơ sở bành trướng khắp phố phường, thôn ấp. Nhân vụ một đoàn viên Thanh Niên Bảo Quốc ném lựu đạn ám sát tướng Chanson của Pháp khi đi kinh lư Sa Đéc vào giữa năm 1951, do chỉ thị của Tướng De Lattre de Tassigny, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm kư nghị định giải tán tổ chức này, bắt giam anh Trần Văn Xuân tại khám Hỏa Ḷ Hà Nội, khủng bố nhiều đảng viên tại Sàig̣n và một số tỉnh miền Bắc, nên tổ chức bị tan dần.

                Ngày 9 tháng 9 năm 1947, Hội Nghị Hương Cảng do Cựu Hoàng Bảo Đại triệu tập mục đích h́nh thành một thể chế quốc gia nhằm tranh thủ độc lập trong tay người Pháp và diệt trừ Cộng Sản, có sự tham dự của các Đ/c Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Văn Kiểu, và các nhân vật tên tuổi như Ngô Đ́nh Diệm, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Tường Tam, Đinh Xuân Quảng, Phạm Văn Bính, Phan Văn Giáo, Lê Văn Hoạch, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Soái, Nghiêm Xuân Việt, Nghiêm Xuân Thiện, Hoàng Hùng, Nguyễn Phước Hậu, Trần Quang Vinh, Phan Huy Đán... Hội Nghị cử ông Nguyễn Văn Xuân, Thiếu Tướng trong Quân đội Pháp làm Thủ Tướng.

                Đầu năm 1948 liên lạc được bắt lại giữa Trung Nam Bắc và một tổ chức Trung Ương Đảng được thành lập tại Hà Nội vào cuối năm 1950. Một Hội Đồng Chỉ Đạo Trung Ương gồm các đồng chí: Nguyễn Đ́nh Luyện (Đại diện Xứ Bộ Bắc Việt), Hà Thúc Kư (Đại diện Xứ Bộ Trung Việt) và Nguyễn Tôn Hoàn (Đại diện Xứ Bộ Nam Việt) đă được bầu lên để lănh đạo và điều hành công tác Đảng. Để tránh sự ngộ nhận khi anh em Việt Quốc sử dụng luôn đảng kỳ của Đại Việt, nên Đảng đă quyết định thay đổi đảng kỳ thêm vào một phần vàng giữa nền đỏ, và chọn bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông (do Nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác trong thời gian ở tù, cố ư tặng các đồng chí Đại Việt cùng ở tù chung với nhạc sĩ) làm đảng ca.

                Trong giai đoạn từ 1948 đến 1951, nhiều đồng chí cao cấp của Đảng bị ám sát (như Giáo sư Nguyễn Trung Thuyết ở Huế) trong số này có đồng chí Bửu Hiệp, Xứ Ủy Trưởng Trung Việt. Sau khi đồng chí Bửu Hiệp hy sinh, đồng chí Hà Thúc Kư đă lên thay thế điều khiển Xứ Bộ Trung Việt vào cuối năm 1950. Trước đó đồng chí Hà Thúc Kư đă chỉ huy cuộc chiến đấu chống Pháp trên trục quốc lộ 9 giữa biên giới Lào Việt.

                Một tổ chức chính trị mới mang ảnh hưởng Đảng cũng đă xuất hiện từ đầu năm 1951 có tên Phong Trào Quốc Gia B́nh Dân do sáng kiến của một số đồng chí và cảm t́nh viên với thành phần hoạt động gồm đa số anh em thuộc Xứ Bộ Miền Bắc nhân khi đồng chí Nguyễn Hữu Trí làm Thủ Hiến Bắc Việt, muốn đưa Đảng hoạt động trong môi trường rộng lớn hơn. Phong trào này có trụ sở tại đường Reinach Hà Nội, tổ chức ra mắt trọng thể và đông đảo tại đường Gia Long, đă thu hút các đoàn thể chính trị, tôn giáo ở Bắc Việt, có cơ quan ngôn luận là tờ báo Quốc Dân do đồng chí Bùi Diễm làm chủ bút với thành phần ban biên tập như BS Đặng văn Sung, Luật sư Lê Thăng, Bác sĩ Phan Huy Quát, Tiến sĩ Đặng Trinh Kỳ, Nguyễn Dương Đôn, Phan Trọng Nhân, Nguyễn Tất Ứng, v.v...