Nông nghiệp và nông thôn ở Trung Quốc
Phùng Nguyên
Lời nói đầu
Sau gần ba thập niên mở rộng kinh tế, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế đáng kể. Nhiều thành phố mới được xây dựng như Thâm Quyến (Shen Zhen) gần Hương Cảng trước đây chỉ là một làng đánh cá với vài ngàn dân nay là một thành phố lớn với 3-4 triệu dân. Các đường liên tỉnh được mở rộng. Trong 2 năm 2003-2004, đường lộ tráng nhựa được xây cất lên đến 192000 cây số vượt hơn 170000 cây số của các đường lộ xây cất từ 1949 đến 2002 ! (Nhân Dân điện tử 18-1-2005). Xa lộ mỗi năm có thêm 5000 cây số. Đa số người dân trước đây đi xe đạp nay họ có 30 triệu xe hơi để đi trên xa lộ và các đường lộ tráng nhựa. Gần đây nhất, đường xe hoả cao nhất thế giới dài ngoài 1000 cây số nối liền thị trấn Goldmud thuộc tỉnh Thanh Hải về Lhassa, thủ phủ tỉnh Tây Tạng đã đi vào hoạt động đầu tháng 7-2006. Dĩ nhiên, đường xe hoả này, ngoài tác dụng giao thông, còn có tác dụng về chiến lược chính trị. Bắc Kinh muốn dùng đường này để di dân người Hán về một vùng đất lớn 3,6 lần diện tích của Việt Nam nhưng chỉ có 2,7 triệu dân. Ngày nay, việc bang giao giữa các vùng không còn là một chướng ngại lớn như trước đây.
Về tổng sản lượng quốc nội (GDP), Trung Quốc, trong năm 2005, đứng vào hàng thứ 4 với 2230 tỷ USD (18230 tỷ NDT) trước Anh chút ít sau khi chính quyền Bắc Kinh cho làm điều chỉnh lại về thống kê (China.org.cn 23-2-2006). Về bang giao thương mại, Trung Quốc với tổng kim ngạch 1420 tỷ USD trong năm 2005 và với thặng dư mậu dịch 102 tỷ đứng vào hàng thứ 3 sau Hoa Kỳ và Đức. Dự trữ ngoại tệ và đầu tư nước ngoài trong năm 2005 lên đến 820 tỷ USD (lên 941 tỷ cuối tháng 6-2006) và 60,3 tỷ USD. Trong quý hai 2006, số tăng trưởng kinh tế tiếp tục leo thang với 11,3% (Le Monde 20-7-06) trong khi các nhà lãnh đạo chỉ muốn giữ mức tăng trưởng ở 8% vì lo ngại tăng trưởng hâm nóng sẽ sinh ra lạm phát.
Nếu so sánh với năm 1978, GDP của Trung Quốc trong năm 2005 tăng hơn 50 lần (2230 tỷ thay vì 44 tỷ USD), thu nhập đầu người tăng 37,4 lần (1715 thay vì 45,8 USD), ngoại thương tăng 69 lần (1420 tỷ thay vì 20,5 tỷ USD). Thu nhập đầu người sẽ lên đến 2400 USD trong năm 2010 (Le Monde 11-10-2006) ;
Nhưng sự lớn mạnh kinh tế của Trung Quốc có một khuyết điểm lớn, nếu không nói là một quả bôm nổ chậm, là sự phát triển không đồng đều giữa thành thị và thôn quê, giữa vùng duyên hải và vùng nội địa phía tây. Và đây cũng chính là mối lo âu hiện nay của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh.
Thực vậy, từ khi ông Đặng Tiểu Bình đề xướng chính sách mở rộng kinh tế trong năm 1978, vùng duyên hải trong gần ba thập niên qua trở nên trù phú trong khi 70% dân số còn sống ở nông thôn không những không hưởng được sự phồn thịnh mà còn phải bỏ làng xã về thành phố tìm kế sinh nhai mà báo chí thường gọi là dân công (mingong). Sự chênh lệch giữa thành thị và thôn quê mỗi ngày càng trầm trọng. Đầu năm 2001, hai vợ chồng ký giả Trần Quế Đệ và Ngô Xuân Đào ở tỉnh An Huy, sau khi khảo sát tình hình nông thôn ở tỉnh họ đã cho xuất bản một quyển sách làm chấn động dư luận trong nước về sự tham ô và nạn cường hào ác bá của cán bộ địa phương (Talawas 25-2-2005). Hai năm sau, ông Vu Kiến Vinh, một nhà nghiên cứu xã hội học đi khảo sát tình hình nông thôn ở tỉnh Hồ Nam, quê hương của Mao, cũng đi đến một kết luận tương tự [1].
Tình trạng ở nông thôn trở nên báo động có khả năng làm chế độ có thể sụp đổ trong ngắn hạn.
Để cứu vãn tình thế, hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, trong 3 năm qua, đã lấy nhiều biện pháp quyết liệt để thu phục lòng người nông dân bằng cách bãi bỏ thuế cùng đồng thời bỏ nhiều vốn đầu tư trong nông nghiệp. Chúng ta hãy khảo sát tình trạng nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc từ 1978 cho đến nay cũng như chính sách "xã hội hài hoà" của hai ông Hồ-Ôn để cứu vãn tình thế.
I-Ngược dòng lịch sử
Trong lịch sử nhiều ngàn năm của Trung Quốc, không biết bao nhiêu cuộc bạo loạn nổi dậy của nông dân trong đó cuộc nổi loạn nông dân đầu tiên do Trần Thắng và Ngô Quảng đứng lên chống lại bạo quyền của Tần Thuỷ Hoàng năm 208 trước Công Nguyên. Cuộc nổi dậy này, dù thất bại, nhưng đã để lại cho hậu thế một bài học sâu sắc. Đặc biệt là vào cuối triều đại nhà Nguyên.nhiều cuộc nổi loạn của nông dân như giặc khăn đỏ của Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông ở phía Bắc và của Quách Tử Hưng ở phía Nam. Chu Nguyên Chương, người nối tiếp sự nghiệp của Quách Tử Hưng đã khôn khéo đưa cuộc nổi loạn đến thắng lợi để sáng lập nhà Minh nối tiêp triều đại nhà Nguyên Mông Cổ. Nhưng khi có quyền lực, các vua chúa nối tiếp hà hiếp nông dân làm nhiều cuộc bạo loạn nông dân nổi dậy dưới triều đại này như các cuộc nổi dậy của Trương Hiến Trung, Cao Nghinh Tường và Lý Tự Thành. Tiếc thay, cuộc nổi dậy của Lý Tự Thành bị thất bại vì chia rẽ trong nội bộ để sau cùng bị quân Mãn Châu chế ngự trong gần 300 năm trên toàn xứ Trung Hoa.
Lịch sử của Trung Quốc thường lập lại vào những lúc quốc gia trở nên đen tối nhất. Năm 1927, Tưởng Giới Thạch huỷ bỏ hiệp ước hợp tác Quốc-Cộng do Stalin và Tôn Trung Sơn đề xướng. Tưởng cho phát động, trong tháng tư, một phong trào "thủ tiêu″ người cộng sản.trên toàn xứ. Trước tình thế cực kỳ hiểm nghèo, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chỉ còn hai con đường lựa chọn, đường thứ nhất là di tản ban lãnh đạo sang Liên Xô, đường thứ hai là rút về thôn quê nương dựa vào nông dân. Như chúng ta biết, ĐCSTQ chọn con đường thứ hai và chọn Tỉnh Cương Sơn thuộc tỉnh Giang Tây làm nơi cư trú. Chính ở nơi đây, Mao Trạch Đông đã phân tích tình hình nông thôn ở Hồ Nam trong nhiều bài viết nổi tiếng và trở thành, năm 1931, chủ tịch "Cộng Hoà Xô Viết″, lấy thị trấn Thuỵ Kim làm "thủ đô″. Tháng 10-1934, Tưởng Giới Thạch cho 700000 quân bao vây Thuỵ Kim, "chính phủ″ của Mao phải trối chết bỏ chạy về Diên An mà sau nầy họ gọi là cuộc Trường Chinh dài 10000 cây số kéo dài trong một năm. Khi về tới Bảo An, một thị trấn gần Diên An, quân số chỉ còn dưới 10000 người so với 90000 người lúc ra đi.
Kế tiếp sau dó, Mao sử dụng sách lược ″thôn quê bao vây thành thị" để cuối cùng đi đến thắng lợi. Giới nông dân với sự hy sinh vô bờ bến của họ tưởng sẽ hưởng thành quả thu được. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, người nông dân Trung Quốc lại phải ngậm ngùi nuốt cay uống đắng.
Từ 1953 đến 1956, ĐCSTQ theo mô hình "anh cả Liên Xô″, một mặt cho phát động tập thể hoá một cách vội vã nông nghiệp, mặt khác đầu tư ồ ạt vào công nghiệp với chỉ tiêu quá cao vượt ngoài khả năng tài chính. Tiếp theo đó từ năm 1958-1960, chính sách "Đại nhảy vọt" (tháng 5-1958) với sự thành lập 25000 công xã nhân dân của Mao làm nông dân không những trở nên kiệt quệ mà còn chết đói. Đế chứng tỏ chính sách này nâng cao đời sống của nông dân, thống kê của chính quyền không ngần ngại thổi phòng đưa mức sản xuất nông nghiệp lên 375 triệu tấn cho năm 1958 tăng 96,3% ( !) so với năm 1957 (191 triệu tấn) [2].
Trong ba năm đó, nông dân phải bán cho nhà nước với giá qui định (giá rẽ) : 55,8 triệu tấn năm 1958, 55,9 triệu tấn năm 1959, và 42,8 triệu tấn năm 1960. Như vậy tỷ lệ thóc bán cho nhà Nước so với mức sản xuất là 27,9%, 32,9%, 28,5%. [3]
Như chúng ta đều biết, chính sách "Đại nhảy vọt" kéo dài trong 3 năm làm 30 triệu người chết trong đó đa số là nông dân theo một ước tính ở phương Tây. Thất bại trong nông nghiệp đưa đến hậu quả chính trị. Một số lãnh đạo can đảm lên tiếng chỉ trích trực tiếp Mao ở hội nghị Lư Sơn trong hè 1959. Người cầm đầu chống đối là nguyên soái Bành Đức Hoài, uỷ viên bộ chính trị, bộ trưởng bộ Quốc phòng, cựu tổng tư lệnh "tình nguyện quân″ trong chiến tranh Triều Tiên.1950-1953. Uy tín của vị nguyên soái này trong quân đội rất lớn. Một số nhân vật khác như Trương Văn Thiên, cựu tổng bí thư Đảng từ 1-1935 đến 3-1943, uỷ viên dự khuyết bộ chính trị kiêm thứ trưởng Ngoại giao, Hoàng Khắc Thành, uỷ viên TƯĐ, tổng tham mưu trưởng quân đội, Châu Tiểu Châu, uỷ viên TƯĐ, bí thư tỉnh uỷ tỉnh Hồ Nam, quê hương của Mao cũng công khai lên tiếng. Một số lãnh tụ khác tuy đồng tình với những chỉ trích này nhưng không dám lên tiếng. Những người lên tiếng chỉ trích Mao đều bị cách chức sau đó nhưng Mao bắt buộc phải nhường chức chủ tịch nước cho Lưu Thiếu Kỳ. Đây là mầm móng của cuộc "đại cách mạng văn hoá " kéo dài trong 10 năm sau đó (1966-1976).
II-Cải cách nông nghiệp của Đặng Tiểu Bình
Như trên đã thấy, tình trạng nông nghiệp của Trung Quốc dưới thời Mao đã đi vào ngõ cụt. Sau khi Mao từ trần trong tháng 9-1976 và sau một thời gian còn bị thất sủng, Đặng Tiểu Bình thực sự nắm quyền lực ở Hội nghị lần thứ 3 khoá XI (1978). Hội nghị này đặt nền tảng cho sự mở rộng kinh tế với sự sáng lập các đặc khu ở các tỉnh duyên hải và cho phép vốn nước ngoài vào đầu tư. Về phương diện nông nghiệp, ông Đặng cho giải thể chế độ tập thể hoá nông nghiệp và thành lập một hệ thống trách nhiệm các nông hộ (còn gọi là khoán) theo đó mỗi nông hộ có quyền quản lý đất đai được cấp phát và lợi tức riêng. Theo thống kê năm 1979, có 12% đất đai trồng trọt tự do, 11% thuộc nhà nước và 77% thuộc sở hữu tập thể của làng xã. Sở hữu tập thể lúc đó chiếm 80 triệu hec–ta được phân phát cho 155 triệu nông hộ, mướn với một hợp đồng qui định khoảng 15 năm. Bù lại, nông dân cam kết trả thuế ruộng cho nhà nước, cho cộng động và làng xã cũng như phải bán một phần số thu hoạch với giá thấp hơn giá thị trường (từ 10% đến 15% tuỳ theo vùng). Số thu hoạch còn lại, nông dân được giữ lại nuôi sống gia đình và bán ra thị trường. Trên lý thuyết, chính sách mới tốt hơn chế độ tập thể hoá trước kia bằng chứng là, từ 1978 đến 1987, sản xuất ngũ cốc tăng hơn 30% từ 305 lên 405 triệu tấn và thu nhập hàng năm của nông dân, dù còn rất thấp, tăng hơn 3 lần, từ 134 lên 400 Nhân Dân Tệ (NDT). Ở nhiều nơi có nhiều nông hộ có thu hoạch lên đến 10000 NDT (số ít). Giới nông dân rất phấn khởi. Nhưng tình trạng này không kéo dài vì chính sách có nhiều sơ hở. Chế độ thu mua với giá nhất định được thay thế trong năm 1985 bằng chế độ giá cả giao kết giữa nhà nước và nông dân. Nhưng lạm phát tăng cao làm giá nông sản ở thị trường cũng tăng theo. Do đó, sự sai biệt giữa giá giao kết và giá thị trường càng nới rộng. Trong năm 1987, nhà nước mua của nông dân 50 triệu tấn thóc với giá sai biệt mỗi kí–lô là 0,25 NDT. Nhà nước lãi được 12,5 tỷ NDT trong khi thuế nông nghiệp chỉ có 4,5 tỷ NDT, nghĩa là nông dân biếu không cho nhà nước 8 tỷ NDT. Thậm tệ hơn nữa, nhà nước không đủ tiền mặt, người nông dân chỉ được trả bằng phiếu trắng, một loại giấy được nhà nước thừa nhận nhưng không nói ngày nào trả!..
Ngoài ra, nông dân còn phải mua phân bón và thuốc trừ sâu nhập từ nước ngoài với giá thị trường vì sản xuất trong nước không đủ đáp ứng. Do lối canh tác cấp tốc nên nông dân mỗi ngày càng dùng nhiều phân bón. Nếu năm 1978, họ chỉ dùng 90kg/hec–ta thi 1987 thì họ phải dùng 210 kg/hec–ta. Người nông dân, trong môt thời gian dài, phải bỏ tiền để mua sản phẩm công nghiệp với giá cao trong khi họ hoàn toàn không có tự do bán nông sản ở thị trường.
Người nông dân còn phải chịu thất thoát khoảng 1/10 thu hoạch vì không có phương tiện dự trữ thóc. Người ta ước lượng sự thất thoát mỗi năm lên đến.40-45 triệu tấn. Kết quả là đời sống người nông dân bị giảm sút không có phương tiện đầu tư vào nông nghiệp. Họ trông chờ vào sư giúp đỡ của chính phủ nhưng ưu tiên của chính phủ dưới thời kỳ Giang Trạch Dân (1989-2002) là phát triển công nghiệp và xí nghiệp vốn nước ngoài ở các vùng duyên hải và thành phố lớn.
Vì vậy mà đầu tư trong nông nghiệp không những rất ít oi mà tỷ lệ mỗi năm càng xuống thấp. Nếu đầu tư nông nghiệp chiếm 10,6% ngân sách trong năm 1978 thì năm 1991 giảm xuống còn 4,1% và tỷ lệ này không tăng cho đến 2003 [4].
III-Tình trạng nông nghiệp của Trung Quốc hiện nay
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường khoe với cộng đồng quốc tế là đất đai dành cho nông nghiệp của họ chỉ chiếm 7% đất đai trồng trọt thế giới nhưng nuôi sống đến 20% nhân mãn thế giới. Thực tế ra sao ?
Nông nghiệp của Trung Quốc, trong năm 2004, chiếm 130 triệu hec-ta đất đai trồng trọt trong đó có 101,6 triệu dành cho ngũ cốc và 108 triệu hec–ta không trồng trọt. Phần đất trồng trọt còn lại (28,4 triệu hec–ta) dành cho rau cải, cây có dầu, bông, mía vv.. (Pékin-Info số 8-2006).
Nông dân ở Trung Quốc hiện nay có 750 triệu người chiếm 58% dân số (1,3 tỷ người). Chỉ trong thời gian ngắn, nông thôn Trung Quốc mất đi 12% dân số. Nông nghiệp Trung Quốc vừa chia nhỏ vừa kém cơ giới hoá, gồm có 200 triệu hộ đa số là gia đình. Bình quân, mỗi hộ chiếm một mẫu Trung Hoa (bằng 1/15 hec–ta hay 666 thước vuông). Do lối canh tác cấp tốc nên nông nghiệp TQ phải dùng nhiều phân bón. Dù vậy, năng suất còn rất kém không đạt đến 5 tấn/hec-ta, 10 lần kém hơn các nước Âu Mỹ. Vì vậy mà người nông dân Trung Quốc chỉ nuôi được từ 3 đến 4 người so với 65 người ở Đức, 75 người ở Hoa Kỳ và 160 người ở Đan Mạch (Le Monde ngày 13-12-2005). Trong năm 2004, nông nghiệp chỉ đóng góp 15% cho GDP trong khi công nghiệp và dịch vụ đóng góp 53% và 32%. So với năm 1978, tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp cho GDP giảm đi gần phân nửa (28%). Cán cân thương mại nông nghiệp cũng bị thâm hụt đến 4,6 tỷ USD trong năm 2004 (28 tỷ nhập, 23,4 tỷ xuất).
Sự yếu kém của nông nghiệp còn đưa đến một hậu quả khác là không mở rộng thị trường nội địa và hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước vì tiêu thụ nội địa không cao. Một giáo sư của Viện phát triển nông thôn thuộc Đại học nhân dân Bắc Kinh làm một so sánh khá ngộ nghĩnh. Ông nói : "Tăng trưởng kinh tế phải do 3 con ngựa kéo là đầu tư, xuất cảng và tiêu thụ nội địa. Ở Trung Quốc, 2 con ngựa đầu rất mạnh, nhưng con ngựa thứ ba là con… lừa″. Ông muốn nói 750 triệu nông dân chiếm 58% dân số nhưng hiện nay chỉ đóng góp 32,9% bán sỉ đồ tiêu dùng.so với 67,6% năm 1978 và 53,2% năm 1990. Vì nông dân ở trong tình trạng yếu kém nên năng sức mua của họ không thể kéo tiêu thụ lên cao (Le Monde 5-6/3/06).
Theo thống kê chính thức, tiêu thụ nội địa trong năm 2005 chỉ chiếm 39% của GDP so với 46% năm 1995.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh nhanh tốc đô thị hoá, công nghiệp hoá khiến đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Hiện tượng này cũng làm cho nông dân chao đão. Trong 10 năm qua, đất đai của 60 triệu nông dân, theo một báo cáo chính thức, bị trưng dụng và 3 triệu nông dân hàng năm còn phải bị mất đất trong vòng 5 năm tới (Libération 25-7-2006). Chỉ riêng giữa năm 1999 và 2003, có 7,6 triệu hec–ta đất đai trồng trọt bị thất thoát. Kết quả là tiêu thụ đầu người ngũ cốc của người Trung Quốc giảm trong những năm gần đây so với 1998. Mức thu nhập của họ cũng bị người thành thị bỏ xa.
Bảng số I đính kèm cho chúng ta thấy sản xuất ngũ cốc của Trung Quốc lên xuống bất thường thậm chí còn giảm so với 1990 hay 1998. Bình quân sản xuất ngũ cốc từ 2001 đến 2005 có khoảng 458 triệu tấn, bình quân đầu người là 355 kí trong khi con số này đã lên 409 kí năm 1998.
Còn về khoảng cách giữa người thành thị và nông dân mỗi năm càng nới rộng như bảng số dưới đây :
|
Thu nhập (NDT) |
1986 |
1992 |
1998 |
2001 |
2004 |
2005 |
2005/1986 |
|
Thành thi |
823 |
1800 |
5425 |
6860 |
9422 |
10493 |
12,7 lần |
|
Nông thôn |
424 |
770 |
2160 |
2366 |
2936 |
3255 |
7,7 lần |
|
Khoảng cách (lần) |
1,9 |
2,3 |
2,5 |
2,9 |
3,2 |
3,2 |
|
Nguồn tin : Thu tập từ nhiều nguồn tin chính thức
Năm 2005 lợi tức đầu người tại thành thị là 10493 NDT (khoảng1310 USD), so với 3255 NDT (407 USD) của nông dân. Mức sai biệt lợi tức năm 1986 là 1,9, năm 2005 là 3,2. Theo nhật báo Le Monde ngày 23-9-2005, 10% người giàu nhất chiếm 45% lợi tức cả nước trong khi 10% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4%.
Bảng số II cho chúng ta thấy những đặc tính sau :
-5 tỉnh duyên hải như Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân, Chiết Giang, Giang Tô.có thu nhập đầu người trên 20000 NDT/năm (2418 USD, tính theo giá 2004). Riêng tỉnh Thượng Hải vượt xa các tỉnh khác với 55185 NDT (6673 USD).-9 tỉnh có thu nhập đầu người trên 10000 NDT/năm (1209 USD) là : Phúc Kiến, Quảng Đông, Hà Bắc, Hồ Bắc, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Sơn Đông, Nội Mông.
-16 tỉnh có thu nhập đầu người từ 5000 đến 10000 NDT/năm là : Tân Cương, Tây Tạng, Ninh Hạ, Giang Tây, Quảng Tây, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Sơn Tây, Thiểm Tây, Vân Nam, Hải Nam, Hồ Nam, Hà Nam, Cam Túc, An Huy, Trùng Khánh.
-1 tỉnh có thu nhập đầu người dưới 5000 NDT/năm là Quý Châu.
-23% người nông dân nghèo phía tây chỉ có 1,2% lợi tức quốc gia trong khi 28,7% người thành thị giàu nhất [5] chiếm 55% lợi tức quốc gia ;
Giữa vùng nông thôn cũng có những khoảng cách lợi tức lớn. Chẳng hạn, nông dân ba tỉnh giàu nhất (Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân) có thu nhập bình quân cao 3,9 lần hơn thu nhập nông dân của ba tỉnh nghèo nhất (Tây Tạng, Cam Túc, Quý Châu) : 7000 NDT/năm thay vì 1800 NDT/năm.Với thu nhập 1800NDT/năm (225 USD), người nông dân nghèo không có đến 1 USD/ngày, mức tối thiểu theo qui định quốc tế.
Sự cách biệt còn được nhìn thấy qua những khía cạnh khác nữa. Tỷ số người thất nghiệp ở thành thị, theo chính quyền, là 4,2%, nhưng chắc chắn phải cao hơn nhiều. Bắc Kinh đã phải thú nhận, trong năm 2005, có tới 200 triệu người ở nông thôn lên thành phố tìm kế mưu sinh mặc dù chế độ hộ khẩu ra đời, năm 1958, cấm chỉ người nông dân không được sống ở thành phố. Con số này chỉ có 30 triệu trong năm 1986 và người ta dự trù nó sẽ lên đến 500 triệu trong năm 2020 (Le Monde ngày 8-9-2004). Ngoài ra, trong năm 2000, thuế đầu người nông dân là 146 NDT/năm trong khi thuế đầu người thành thị chỉ có 37 NDT, 3,9 lần nhiều hơn.(Talawas 25-2-2005).
Người viết những dòng chữ này đã nhiều lần chứng kiến cảnh người dân công tập tụ một cách hỗn tạp ở các nhà ga Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu vv..hay trên các đường phố ở các tỉnh. Ngày nay, ở ngoại ô phía nam Bắc Kinh có những "làng" Hà Nam, Chiết Giang, An Huy, Tứ Xuyên, Tân Cương do những dân công này tạo nên và có tới 3-4 triệu dân. Những người này bị xem là một loại công dân hạng nhì vì không được chính quyền công nhận. Do đó, họ không được hưởng những quyền lợi như những công dân khác.
Báo Libération của Pháp ra ngày 12-10-06 viết rằng một số dân công ở Bắc Kinh sẽ bị trục xuất về quê trướcThế Vận Hội 2008 để thủ đô được "xinh đẹp" hơn.
IV-Tình trạng thực tế ở nông thôn
Như trên cho thấy, đời sống ở nông thôn không những đã bấp bênh về thu nhập mà tình trạng vật chất còn .muôn vàn khó khăn. Theo một thống kê chính thức do Tân Hoa xã đăng tải ngày 3-3-2006, phân nửa làng xã ở Trung Quốc không có nước vào nhà, hơn 60% nông hộ không có cầu xí hiện đại, 150 triệu nông hộ có vấn đề tiếp tế về khí đốt trong khi gia cư của 70 triệu nông dân cần được cải thiện. Họ cũng không có bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí. Với chính sách một con của chính phủ ban hành năm 1979, người nông dân khó trông nhờ vào con cái vào lúc tuổi già nua.
Năm 2002, Nhà nước đầu tư 580 tỷ NDT (70 tỷ USD) trong ngành giáo dục, nông thôn chỉ nhận được 23% trong khi nông dân còn chiếm 61% dân số (Beijing–Info, số 10-2005)
Họ còn bị nạn cường hào ác bá của cán bộ địa phương thu thuế bất chấp luật pháp. Lẽ ra thuế đóng cho quỷ cộng đồng và làng xã chỉ chiếm 5% số thu hoạch nhưng trên thực tế người nông dân phải đóng 3 lần hơn. Trong cuộc điều tra về " Người nông dân Trung Quốc" của 2 vợ chồng nhà văn Trần Quế Đệ và Ngô Xuân Đào, họ đã đưa ra nhiều loại thuế ở địa phương mà ít người thực sự nghĩ đến (Talawas 25-2-2005). Xin kể ra vài thí dụ. Người nông dân muốn kết hôn phải nộp tất cả 14 loại thuế: thuế đăng ký, thuế giấy chứng nhận, thuế giới thiệu, thuế công chứng, thuế kiểm tra, thuế bảo đảm sức khoẻ, thuế giết lợn, thuế bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch vân vân và vân vân ! Về sinh đẻ có kế hoạch, nếu "lỡ dại" có nhiều con thì phải nộp thuế "sinh đẻ ngoài kế hoạch" hoặc vì lý do phải lên huyện tỉnh thì phải nộp thuế "đẻ không đúng chổ". Khác với người thành thị, người nông dân muốn có nhiều con trai để nối dõi tông đường và thay thế họ sản xuất khi tuổi về già. Họ đã vi phạm chính sách một con của Nhà nước. Ở huyện Tuy Khê thuộc tỉnh An Huy, có tới 100000 trẻ con "đẻ lậu", cán bộ địa phương với thuế thu đẻ lậu trở nên giàu xụ vì phải trả bằng tiền mặt. Một thí dụ khác cười ra nước mắt là khi luật bảo vệ môi trường được ban hành, có địa phương coi khói thổi cơm từ bếp của nông dân là "ô nhiễm môi trường". Nếu nông dân tỏ vẽ bất mãn thì bị thêm "thuế thái độ".
Nỗi khổ của nông dân vượt ngoài sức tưởng tượng và hai nhà văn đi đến kết luận như sau: "Nông dân ngày nay bị áp bức còn nặng nề hơn cả thời kỳ Quốc Dân Đảng và quân phiệt Nhật thống trị".
Trước sự áp bức của cán bộ địa phương mà chính quyền trung ương hoàn toàn bất lực, người nông dân không còn cách nào khác là đứng lên nổi dậy. Từ một thập niên qua đã có hàng chục ngàn vụ nổi dậy ở nông thôn, thông thường là do những loại thuế kỳ quái áp đặt trên đầu cổ người nông dân. Trong những năm gần đây, một hiện tượng khác là đất đai của nông dân bị truất hữu để xây cất nhà cửa, xí nghiệp, đường xá, cầu đường, công trình thuỷ điện lực, sân golf cho người ngoại quốc và tư bản đỏ vv..nhưng họ không được đền bù xứng đáng. Thông thường họ chỉ được đền bù 1/10 giá trị đất đai thậm chí không được đền bù gì hết. Người ta ước tính với 6,7 triệu hecta bị trưng dụng trong những năm gần đây và nếu phải đền bù với giá 750000 NDT/hecta (75000 Euros) thì Nhà nước phải chi ra 500 tỷ Euros hay 600 tỷ USD. Đã vậy mà họ còn bị cán bộ địa phương ăn chận trước khi tiền đền bù đến tay họ. Họ cũng không biết phải đi thưa kiện hay làm khiếu nại ở đâu vì các thẩm phán do chính quyền địa phương bổ nhiệm và đa số bị mua chuộc.
Trong các vụ nổi dậy gần đây ở nông thôn, có 2 vụ đáng chú ý.
Đó là vụ bạo động ở huyện Hán Nguyên thuộc tỉnh Tứ Xuyên vào đầu tháng 11-2004 theo đó có 10 vạn nông dân xuống đường chống chính quyền vì họ bị cưỡng bức phải dời đi nơi khác để xây một tháp đập. Chính quyền phải gửi tới một vạn cảnh sát vũ trang (Trung Quốc có một triệu quân cảnh sát vũ trang để đàn áp các phong trào chống đối) để giải vây bí thư tỉnh uỷ Trương Học Trung bị nông dân "tạm" bắt giữ (Libération ngày 8-11-204). Cuộc đàn áp làm nhiều người chết và bị thương.
Vụ bạo động thứ hai ở Đông châu thuộc tỉnh Quảng Đông xảy ra ngày 6-12-2005 mà báo chí phương tây không ngần ngại so sánh là một "Thiên An Môn nông thôn" vì quân đội cho nổ súng để giải tán 3000 nông dân biểu tình. Đây là lần đầu tiên quân đội cho nổ súng từ khi sự kiện Thiên An Môn xảy ra năm 1989. Chính quyền thì nói chỉ có 3 người chết nhưng dân làng thì nói có ngoài 30 người mất tích (Le Monde 13-12-2005).
Những vụ xuống đường biểu tình chống đối bất công trong xã hội mà chính phủ là đối tượng tăng một cách kinh khủng. Nếu năm 2003 có 58000 vụ thì năm 2004 tăng lên 74000 vụ và năm 2005 lên 87000 vụ. (Le Monde 13-12-2005).
V-Chính sách xây dựng "xã hội hài hoà″ ở nông thôn
Sau Đại hội lần thứ XVI vào cuối tháng 11-2002, một ban lãnh đạo mới lên cầm quyền vào đầu năm 2003 với ông Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước và chủ tịch Hội đồng Quân sự và ông Ôn Gia Bảo, Tổng lý Quốc vụ viện hay Thủ tướng. Hai nhân vật này quan tâm đến vấn đề phát triển các vùng bên trong còn kém mở mang khác so với thời kỳ của Giang Trạch Dân với khẩu hiệu "tất cả cho vùng duyên hải″. Cần nhắc lại, ông Ôn Gia Bảo là phó thủ tướng, đặc trách nông nghiệp của chính phủ Chu Dung Cơ trước đó.
Đối với hai nhân vật này, phát triển kinh tế một cách bừa bãi không còn được xem như là một chính sách ưu việt và bền vững và họ đã bắt đầu có những biện pháp với mục đích ưu tiên là giảm bớt sự cách biệt giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. Trong việc cách chức gần đây của bí thư thành uỷ Thượng Hải Trần Lương Vũ, ngoài ý đồ đánh ngã nhóm Thượng Hải [6] do người tiền nhiệm Giang Trạch Dân gài lại, hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã bất đồng chính kiến với nhóm này về chính sách tăng trưởng kinh tế cao nhưng không quan tâm đến vấn đề dân sinh, môi trường, bất công xã hội và đặc biệt là vấn đề nông thôn.
Hội nghị lần thứ VI khoá XVI vừa bế mạc ngày 11 tháng 10 nhắc lại bước ngoặt đã khởi đầu trong việc xây dựng một xã hội hài hoà vì "bất công xã hội sẽ làm yếu đi công cuộc cải cách và phát triển" (Le Monde 13-10-06).
Từ 2004 trở đi, do những cuộc nổi loạn trong nông thôn không ngừng gia tăng nên chính phủ của ông Ôn Gia Bảo đã có một vài cố gắng đáng kể. Chẳng hạn, năm 2004, nhà Nước đầu tư trong nông nghiệp 150 tỷ NDT (18 tỷ USD) (tăng 50% so với năm 2003) trên một ngân sách 2836 tỷ NDT, như vậy tỷ lệ là 5,3%. Sang năm 2005, đầu tư tăng gần gấp đôi (gần 300 tỷ NDT), nhưng nếu tính theo tỷ lệ của GDP thì đầu tư trong nông nghiệp chỉ chiếm 1,6%, một con số còn quá ít ỏi. Thuế nông nghiệp cũng được chính phủ bắt đầu cho giảm trong hai năm 2004 và 2005 để cuối cùng hoàn toàn bãi bỏ vào đầu năm 2006. Việc bãi bỏ thuế nông nghiệp làm chính phủ mất đi một tài khoản thu nhập độ 100 tỷ NDT.
Trong bản báo cáo thường niên đọc trước Quốc hội ngày 5-3-06, thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh những ưu tiên trong năm 2006 trong đó chủ yếu nói về chính sách mới trong nông nghiệp với mục tiêu là đưa thịnh vượng tới nông thôn hầu xây dựng một "vùng nông thôn XHCN mới″. Ông Ôn Gia Bảo nói″ Cần phải phát triển hài hoà kinh tế xã hội giữa thành thị và nông thôn, đẩy mạnh xây dựng hiện đại hoá nông nghiệp, cải cách sâu sắc toàn diện ở nông thôn, ra sức phát triển các sự nghiệp công cộng và bằng mọi cách tăng thu nhập cho nông dân "
Để thực hiện chính sách nói trên, chính phủ Trung Quốc sẽ chi 339,7 tỷ NDT (khoảng 42 tỷ USD) để hỗ trợ nông nghiệp, các vùng nông thôn và nông dân trong năm 2006, tăng hơn 42,2 tỷ NDT (+14,2%) so với năm ngoái (Xinhua 5-3-06). Song song đó, chính phủ sẽ đầu tư vào các dự án phát triển khoa học công nghệ, trường học, bệnh viện, đường xá vv . ở nông thôn.
Theo ông Ôn Gia Bảo, đây là nỗ lực của Trung Quốc trong việc làm giảm khoảng cách giàu nghèo bằng cách chi nhiều hơn cho vùng nông thôn, nơi có 750-800 triệu dân sinh sống.
Thay lời kết.
Như đề tựa của quyển sách "Núi lửa Trung Quốc" của bà Ursula Gauthier, vấn đề nông thôn ở Trung Quốc là một bộ phận của núi lửa có thể bột phát bất cứ lúc nào. Như trên đã nói, đời sống vật chất ở nông thôn không những đã khó khăn mà còn bị cán bộ địa phương quấy nhiễu trăm bề. Người nông dân miễn cưỡng phải từ bỏ ruộng vườn để tìm kế mưu sinh tạm bợ ở thành phố. Ngày nay, họ trở thành 200 triệu dân công và bị người thành thị xem là một loại công dân hạng nhì vì họ không hưởng được các quyền như của người công dân khác như có hộ khẩu, con cái được cắp sách đến trường, được chăm sóc khi đau ốm vv..
Hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã thấy tình trạng báo động ở nông thôn và đặt trong tâm trong việc phát triển điều hoà, chú trọng đến vấn đề dân sinh như tôn trọng môi trường, giảm bớt sự bất bình đẳng trong xã hội vv..
Tôi không nhớ ai đã nói (Đặng Tiểu Bình ?),"Chế độ cộng sản Trung Quốc do người nông dân đóng góp tạo dựng lên nhưng chế độ cũng có thể sụp đổ vì nông thôn nếu chúng ta không có một chính sách sáng suốt để đáp ứng". Chính sách "xã hội hài hoà" của 2 ông Hồ-Ôn nếu không cứu vãn được tình thế thì ít ra cũng giảm bớt được sự chênh lệch mỗi ngày càng sâu rộng giữa thành thị và nông thôn.
Phùng Nguyên
Chú thích
[1] Goodbye Mao của F.Bobin, NXB de la Martinière, 2006, 260 trang, tr 232-233.
[2] Nhưng sau đó phải hai lần duyệt lại, lần đầu xuống còn 250 triệu tấn, lần sau xuống còn 200 triệu tấn (xem La République populaire de Chine de 1949 à nos jours de Marie–Claire Bergère, NXB Armand Colin, 2è édition, 1989, 329 trang, tr.82). Tuy vậy, con số gần thực tế là độ 150 triệu tấn.
[3] Bergère, sđd, tr.103
[4] Ursula Gauthier : Le volcan chinois, NXB Denoel, 300 trang ; tr.48.
[5] Gồm 7 tỉnh sau : Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Chiết Giang, Giang Tô, Phúc Kiến, Quảng Đông...
[6] Nhóm Thượng Hải ở Thường vụ bộ chính trị gồm có : Ngô Bang Quốc, chủ tịch Quốc Hội (nhân vật số 2), Tăng Khánh Hồng, phó chủ tịch nước (số 5), Hoàng Cúc, phó thủ tướng thứ nhất (số 6).
Phụ lục
1-Bảng số I
|
Loại (triệu tấn) |
1949 |
1978 |
1990 |
1998 |
2000 |
2002 |
2003 |
2004 |
|
Ngũ cốc |
113,2 |
304,8 |
446,2 |
510 |
462,2 |
457,1 |
430,7 |
469,5 |
|
Bông |
0,44 |
2,17 |
4,51 |
4,4 |
4,42 |
4,92 |
4,86 |
6,32 |
|
Dầu ăn |
2,6 |
5,2 |
16,1 |
22,9 |
29,5 |
28,9 |
28,1 |
30,7 |
|
Đường mía |
2,6 |
21,1 |
57,6 |
83,4 |
68,3 |
90,1 |
90,2 |
89,8 |
|
Đường củ cải |
0,19 |
2,70 |
1,45 |
14 |
8,1 |
12,8 |
6,2 |
5,9 |
|
Thuốc lá |
0,04 |
1,05 |
2,26 |
|
2,34 |
2,13 |
2,01 |
2,20 |
|
Trà |
0,04 |
0,27 |
0,54 |
0,67 |
0,68 |
0,74 |
0,90 |
0,89 |
|
Trái cây |
1,2 |
6,6 |
18,7 |
|
62,2 |
69,5 |
145,2 |
153,4 |
|
Thịt (heo, bò, cừu) |
2,2 |
8,6 |
25,1 |
43,5 |
61,2 |
65,9 |
69,3 |
72,4 |
|
Thuỷ sản |
0,64 |
4,6 |
12,4 |
39,6 |
42,8 |
45,6 |
47,0 |
49,0 |
|
Dân số (triệu)
Nông thôn (%) |
559,5
- |
959
78 |
1133,6 |
1248
|
1267
63,8 |
1284
60,9 |
1293
59,5 |
1300
58,2 |
Nguồn tin : China.org.cn, đặc biệt China.com.cn ngày 25-9-2003. Nguồn tin về dân số do tổng hợp nhiều nguồn.
2-Bảng số II (số liệu 2004)
|
Tên tỉnh |
GDP
Tỷ NDT |
Dân số
(triệu) |
Thu nhập đầu người(NDT) |
TNTT
(NDT) |
TNNT
(NDT) |
Tỷ số
TT/NT |
|
I-Trực thuộc Trung ương |
|
|
|
|
|
|
|
1-Bắc Kinh |
428,3 |
14,9 |
28740 |
15638 |
7152 |
2,2 |
|
2-Thượng Hải |
745,0 |
13,5 |
55185 |
16683 |
7337 |
2,3 |
|
3-Thiên Tân |
293,2 |
10,2 |
28745 |
11467 |
6525 |
1,8 |
|
4-Trùng Khánh |
266,5 |
31,4 |
8487 |
9221 |
2535 |
3,6 |
|
II-Tỉnh |
|
|
|
|
|
|
|
5-An Huy |
481,3 |
62,3 |
7725 |
7511 |
2500 |
3,0 |
|
6-Phúc Kiến |
605,3 |
35,1 |
17245 |
11175 |
4089 |
2,7 |
|
7-Cam Túc |
155,9 |
26,2 |
5950 |
7377 |
1852 |
4,0 |
|
8-Quảng Đông |
1600 |
83,0 |
19277 |
13627 |
4366 |
3,1 |
|
9-Quý Châu |
159,2 |
39,0 |
4082 |
7322 |
1721 |
4,3 |
|
10-Hải Nam |
79,0 |
8,2 |
9634 |
7736 |
2818 |
2,7 |
|
11-Hà Bắc |
883,7 |
68,1 |
12976 |
7951 |
3171 |
2,5 |
|
12-Hà Nam |
881,5 |
97,2 |
9069 |
7705 |
2553 |
3,0 |
| |